Showing posts with label Giải thoát. Show all posts
Showing posts with label Giải thoát. Show all posts

Thursday, 21 April 2022

SỰ GIẢI THOÁT NẰM Ở ĐÂU.

        

SỰ GIẢI THOÁT TRONG ĐẠO PHẬT


1- Người tu sinh khi vào tu viện không phải lo cái ăn, cái ở, cái mặc. Không còn lo nghĩ, sợ hãi hay buồn phiền vì danh lợi. 

2- Khi vào tu viện chỉ ngồi chơi không cần tu tập gì cả. Còn tu tập thì làm sao còn gọi là đạo giải thoát, làm sao còn gọi “ Đạo ta không có thời gian, đến để mà thấy”. 

- Chứng minh là trong Bức Tâm Thơ ngày 31-05-2011 sách ‘ Hướng dẫn nhắc nhỡ tu sinh’  trang 38, Thầy đã viết “Không phải lúc nào cũng đi kinh hành, mà còn phải đi THÂN HÀNH NIỆM khi bị hôn trầm, thùy miên, vô ký; còn bao nhiêu giờ khác thì ngồi chơi như người vô sự, đừng tu tập pháp môn nào khác nữa.”


- Trong sách ‘ Sống độc cư như con tê ngưu 1 sừng’  bài kệ thứ 5 có đoạn: “ Đạo Phật chỉ ngồi chơi MỘT MÌNH từ ngày này sang ngày khác, từ tháng này sang tháng khác, nhưng lúc nào cũng làm chủ thân tâm mình, thân tâm mình không sai bảo mình được, đó là mình đã tu chứng đạo.”

Đúng vậy, Người tu sinh suốt ngày sống một mình chỉ ngồi chơi, chờ đến giờ khất thực là đi lấy thức ăn, còn những giờ khác thì chỉ sống ngồi chơi 1 mình. Đó chính là sự giải thoát. 


3/ Tu là vệ sinh tâm ( Bài ‘Vệ Sinh Tâm’ trong sách ‘ Hướng dẫn nhắc nhỡ tu sinh’  trang 52) Thầy dạy “Khi trong tâm quý vị có cọng rác bẩn nào thì quét nó đi, quét đi thì tâm quý vị sẽ không còn rác bẩn nữa, và như vậy gọi là làm vệ sinh; còn không có rác bẩn thì thôi, cớ sao lại cứ quét mãi, như vậy quý vị có phải là người khùng không? 


Giải thoát của Phật giáo rất là đơn giản, đâu có gì cầu kỳ khó khăn, đâu có gì ngoài cuộc sống của con người? Họ cũng ăn, cũng làm việc bình thường. Nhưng họ khác hơn người thường là luôn luôn lúc nào cũng làm chủ tâm mình; vì thế đời sống của họ vui vẻ, an lạc; không có một việc gì làm cho họ buồn phiền, giận hờn hay cay cú.


Người nào có duyên, sáng nghe Phật thuyết thì chiều đã hoàn toàn giải thoát, chớ có tu tập cái gì nhiều đâu; chỉ cần buông xuống, không hơn thua ai cả là giải thoát. Cho nên đạo Phật duy nhất chỉ biết LY DỤC, LY ÁC PHÁP là giải thoát ngay liền.”

4/ Trong bức tâm thư thầy gửi tu sinh ‘ Phật pháp tu hành không khó’ thuộc sách ‘ Hướng dẫn nhắc nhỡ tu sinh’  trang 58 có viết :


“ Sự GIẢI THOÁT của Phật pháp rất đơn giản, chỉ cần sống TỰ NHIÊN với tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ; sống mà không có sự tu tập gò bó thân tâm thì mới thấy sự GIẢI THOÁT chân thật của đạo Phật. Còn ngược lại, dụng công tu tập làm gò bó thân tâm để tâm BẤT ĐỘNG, thì làm sao thấy sự GIẢI THOÁT. Phải không thưa quý vị?


Từ lâu mọi người hiểu sai Phật pháp, nên cố gắng tu tập, vì thế mà không có một vị sư, thầy nào làm chủ SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT như Phật.


       Dù sử dụng trong bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi, mà tâm vẫn tự nhiên như người NHÀN DU, VÔ SỰ; đó là người đã BUÔNG XẢ sạch. Vì thế, họ không còn tu tập một pháp môn nào nữa cả... Bởi vậy, người nào hiểu đúng Phật pháp là phải cảm nhận được tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ. Nhờ có cảm nhận được tâm như vậy, nên họ đã trở thành CON TÊ NGƯU MỘT SỪNG luôn luôn sống MỘT MÌNH.”


Trong bài thầy viết “ Sống tự nhiên” chứ không phải vào tu viện để tu tập. Ngoài đời chịu bao đau khổ, chúng ta bỏ hết vào chùa tìm sự giải thoát mà lại ôm thêm một hoặc nhiều cái đau khổ khác như tu tập hết cái này đến cái khác thì làm sao thấy được sự giải thoát của đạo Phật. Do vậy, chúng ta còn có ý nghĩ vào tu viện tu tập giải thoát là chúng ta sai, là chúng ta đang mang thêm sự đau khổ khác cho mình. 


Chỉ khi chúng ta nghĩ rằng: chúng ta vào chùa sống giải thoát thì chúng ta mới tìm thấy sự giải thoát. Sống giải thoát là sống tự nhiên như 1 người bình thường, không ôm pháp nào tu tập cả. Suốt ngày ngồi chơi, đi chơi, nằm chơi, đứng chơi vô sự như người nhàn du. Sống như vậy chính là sự giải thoát của đạo Phật. Dễ như vậy mà không ai chịu sống, ai ai cũng thích tu tập, nên gương mặt của mọi người đều đau khổ, không thấy sự vui vẻ. Do hiểu sai ý nghĩa của sự giải thoát nên mọi người bị hôn trầm thùy miên. Từ đó mọi người phải ôm pháp phá, mất đi sự thanh thản, vô sự giải thoát. Cứ như vậy mà bao năm qua rất ít ai tim được sự giải thoát tại tu viện Chơn Như mặc dù tu theo đạo giải thoát nhưng không thấy được sự giải thoát. 


5/ Khi vào tu viện Ai cũng nghĩ họ phải tu tập để có được sự giải thoát nhưng đâu ngờ sự giải thoát đã nằm ngay trước mắt họ mà họ không chịu theo, không chịu theo lời dạy của thầy Thông Lạc, buông xuống hết. Buông xuống các pháp tu từ các môn phái khác, buông xuống các kiểu ngồi thiền nhiếp tâm, buông xuống các trạng thái an lạc hỷ tưởng, buông xuống tâm bất động,… 


Do vậy trong tâm thư thầy gửi tu sinh bài “Hiểu đúng Phật pháp” sách ‘ Hướng dẫn nhắc nhỡ tu sinh’  trang 40 có viết:


- Đạo Phật là đạo của con người, nên sáng hiểu đạo chiều chứng đạo.

- Đạo Phật là đạo trí tuệ, chứ không phải là đạo con cóc, thế mà các con cứ ngồi như cóc có ích gì?

- Đạo Phật là đạo trí tuệ, vì ai biết dùng Tri Kiến là giải thoát ngay, khỏi cần tu.

- Đạo Phật là đạo như thật, ai hiểu đạo là chứng đạo.

- Đạo Phật là đạo sống một mình, không chơi với ai cả.

- Đạo Phật là đạo vô sự, có đâu đi trồng cây trái, đào mương đào rãnh, làm rào làm giậu! “


Chỉ cần hiểu đúng sự giải thoát của đạo Phật, buông xuống hết chuyện ngoài đời, vào tu viện sống tự nhiên như 1 người bình thường, không ôm pháp nào tu tập cả, suốt ngày ngồi chơi, đi chơi, nằm chơi, đứng chơi.  Đến giờ khất thực thì đi xin cơm ăn, hôm nay cho ăn gì thì ăn cái đó, không ăn những thức ăn để sẵn trên kệ từ ngày hôm trước, lập hạnh khất thực như thời đức Phật. 


Sống tự nhiên bình thường, có niệm rác bẩn đến thì chúng ta quét ra, quét xong thì tiếp tục sống bình thường với tâm thanh thản an lạc vô sự. Ngày qua ngày như vậy là đủ rồi. 


6/ Ai cũng có sự giải thoát riêng của chính mình. Riêng tôi về sự giải thoát của đạo phật là như vậy. Tu viện Chơn Như chính là môi trường Niết Bàn tại thế gian, là một mô hình cần nhân rộng ra khắp thế giới để mọi người tìm thấy sự giải thoát ngay trong hiện tại. 


Kính chúc quý vị sống với sự giải thoát của chính mình. 


Wednesday, 12 August 2020

CHỨNG ĐẠO

YẾU CHỈ TU TẬP - TRƯỞNG LÃO THÍCH THÔNG LẠC 
Album pháp âm đức Trưởng lão khai ngộ trạng thái chứng đạo và cô đọng những phương pháp tu tập.
Khai ngộ trạng thái chứng đạo:
“Bởi vậy cho nên Thầy thấy khi mà hiểu rồi sao mà đạo Phật dễ quá, mà chưa hiểu thì sao lại khó quá. Mà hầu hết Thầy thấy quý thầy chưa hiểu cho nên tu coi khó, đi khất thực thì mặt nào cũng ỉu xìu, đi cứ gầm gầm gầm gầm hổng có thấy cái vẻ hân hoan gì hết, tu thì phải hân hoan vui vẻ chứ tu gì mà coi khổ quá, quá khổ. 
Tại sachúng ta lại dẹp hết vọng tưởng để trở thành cây đá? Tu là làm chủ cái sự đau khổ để hết đau khổ chứ đâu phải tu để làm cho chúng ta trở thành con người ngơ ngơ ngẩn ngẩn, gầm gầm đi không dám nhìn ngó ai. Tu là đem lại cho tâm hân hoan vui vẻ, đoan trang, chánh trực, không liếc xéo, liếc ngang, không nói xấu nói lỗi người, không ly gián người này với người khác, tu là đi đứng khoan thai nhẹ nhàng, thoải mái chứ đâu phải đi cúi đầu, khom lưng bước thấp, bước cao. Tu là tĩnh giác nhưng tĩnh giác đâu có nghĩa là chỉ có biết bước đi, hơi thở mà tĩnh giác là tĩnh giác trong tất cả mọi sự việc xung quanh chúng ta. Nghĩa là đâu có tĩnh giác ở trên bước đi không đâu, mà đây là tĩnh giác những chuyện gì xung quanh chúng ta xảy ra, ta biết rõ thiện ác, biết rõ cái bị sanh, bị già, bị chết biết rõ, sự kiện xảy ra biết được, đó là mới tĩnh. Chứ không phải tĩnh mỗi trong hơi thở, biết hơi thở ra, biết hơi thở vô.

Chứng đạo cũng như người bình thường, nhưng người bình thường thì đang bị sanh già bệnh chết làm dao động, còn người chứng đạo thì không bị sanh già bệnh chết gì hết, bất động. Cho nên người bình thường và người chứng đạo khác nhau ở chỗ tâm bất động trước ác pháp và các cảm thọ. Tu như vậy đâu có nghĩa là khó khăn phải không quý vị. Tu đâu có nghĩa là làm cho chúng ta thay đổi thân tâm khác thường, mà làm cho thay đổi thân tâm khác thường thì đâu gọi là tu đúng. Tu là ngăn diệt những hành động làm khổ mình, khổ người đó là cách thức tu.
Tu mà làm cho mấy con quá cực khổ, đó là cái sai. Cho nên khi mà chứng đạo rồi đức Phật nói, con đường khổ hạnh đức Phật không có chấp nhận, mà con đường lợi dưỡng cũng không có chập nhận, hai cái ngả này Phật không chấp nhận, cho nên nó trung đạo, trung đạo là trung đạo cái chỗ nào? Cho nên trung đạo là cái chỗ không tự làm khổ mình. Tu mà làm khổ mình quá như vậy thì làm sao mà tu cho tới nơi tới chốn được? Cho nên cái tu mà làm khổ mình tức là khổ.

Đâu phải tu hết các tưởng là chứng đạo, đâu phải tĩnh giác là chứng đạo, đâu phải thần thông là chứng đạo, đâu phải ngồi thiền nhiều là chứng đạo, chứng đạo là tâm định tỉnh, nhu nhuyễn dễ sử dụng, ý muốn gì sai bảo thì thân tâm làm theo. Các con có nghe cái câu mà đức Phật đã dạy không? Tâm định tỉnh nhu nhuyễn dễ sử dụng.

Chứ không nhẽ bây giờ con người mình tu rồi mình làm cái gốc cây, cục đá ngồi hàng rào chứ, ngồi bất động đó sáu tháng như cái chú bé người Ấn Độ đó, làm gì đó. Không lẽ tu như vậy sao, các con thấy Thầy bác sạch ba cái thứ quỷ quái này. Con người thì con người chứ tại sao con người tu để rồi bây giờ ngồi đó sáu, bẩy tháng không ăn uống gì hết, không nói gì hết, để làm gốc cây sao?

Chứng đạo là làm chủ sanh già bệnh chết khi tâm ham muốn một điều gì ý thức bảo không được ham muốn điều đó là nó không làm, chứng đạo là vậy

“Cho nên hôm cái bài pháp tuy nó ngắn gọn nhưng nó cô đọng đầy đủ những cái phương pháp.Người nào mà chưa ngộ được cái sự chứng đạo, cái trạng thái chứng đạo rồi đến hỏi Thầy, cần thiết để hiểu biết cái này này chứ đừng có hiểu biết cái ba lăng nhăng mà tập ức chế tâm, hỏi Thầy lăng nhăng ba cái tưởng này tưởng kia, ba cái đó dẹp xuống hết đi, ở đây không có ba cái thứ đó nữa.”

“Đây là người tu chứng đạo ý thức làm chủ sự sống chết, tâm lúc nào cũng thoải mái dễ chịu hoan hỷ vui vẻ. Các con thấy mình đuổi nó rồi thì nó bình an cho mình thì ngồi vui vẻ chơi chứ có làm cái gì đâu, chứ đâu phải quá dụng công dụng sức tu tập mệt nhọc quá cho nên mặt héo xèo.”
(Thư viện Thầy Thông Lạc)

Friday, 31 July 2020

TỰ TẠI SANH TỬ


(Trích ở sách: NGƯỜI PHẬT TỬ CẦN BIẾT tập 5 trang 64/
http://nguyenthuychonnhu.net/imag…/ebooks/PhatTuCanBiet5.pdf)
LỜI PHẬT DẠY
“Này các Tỳ kheo, Tỳ kheo có đầy đủ tín, đầy đủ giới, đầy đủ văn, đầy đủ thí, đầy đủ trí tuệ. Vị ấy nghĩ: “Mong rằng với sự đoạn trừ các lậu hoặc, với thắng trí Ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát vô lậu!”
“Vị ấy với sự đoạn trừ các lậu hoặc, với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu. Này các Tỳ kheo, các Tỳ kheo này không sinh ra một nơi nào, không sinh ra một chỗ nào”. (Kinh Trung Bộ tập III trang 289 kinh Đại Hành Sanh).
CHÚ GIẢI:
Kinh Đại Hành Sanh là một bài kinh mà đức Phật đã xác định vị trí thế đứng vững chắc giáo pháp của mình là sự an trú trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải vô lậu. Mục đích giải thoát là phải tu tập đến chỗ tâm vô lậu này thì không còn tái sanh, dù bất cứ nơi đâu. Cho nên đường lối của đạo Phật đã xác định rõ ràng khi đạt đến mục đích này không sanh nơi nào, không có chỗ nào để tái sanh. 
Bài kinh này xác định rõ đạo Phật không có cảnh giới nào để sinh: “Tỳ kheo này không sinh một nơi nào, không sinh ra một chỗ nào?” Như vậy cảnh giới Niết Bàn, Cực Lạc, Phật tánh không phải là chỗ của Phật đến.
Trong kinh Đại Hành Sanh đức Phật đã đưa ra từ cõi người làm vua chúa cho đến 33 cõi Trời, không có cõi nào là chỗ đức Phật đến. Chỗ đức Phật đến chỉ là nơi tâm vô lậu. Chỗ tâm vô lậu là chỗ bất sanh, bất diệt: “Mong rằng với sự đoạn tận các lậu hoặc” Như vậy rõ ràng những gì kinh sách Đại Thừa xây dựng lên mọi cảnh giới đều không đúng nơi đức Phật đến.
Nếu người có trí một chút đọc đoạn kinh này là biết rõ mình tu đến đâu, còn tái sanh hay đã hết tái sanh. Và còn tái sanh về đâu, nơi đâu, đều biết rõ ràng.
Tâm nguyện của người tu sĩ Phật giáo không cầu về cõi Cực Lạc Tây Phương, Niết Bàn, hay kiến tánh thành Phật, hoặc trở về với bản thể Chân Như. Mục đích của người tu sĩ Phật giáo là phải chứng đạt được tâm vô lậu. Vậy tâm vô lậu là gì?
Tâm vô lậu là tâm không còn khổ đau phiền não, lo lắng, sợ hãi, tức giận, than khóc v.v…Tâm vô lậu là tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ. Là tâm không làm khổ mình, khổ người và khổ cả hai, là tâm không còn dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Vì thế, sự tu tập của đạo Phật rất rõ ràng là nhắm vào chỗ đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, đem lại sự thanh thản, an lạc và vô sự cho một thân tâm giải thoát.
Đối tượng sự tu tập giải thoát của Phật giáo là tâm lậu hoặc, tâm lậu hoặc sạch là các bạn đã tu tập xong, chứ không phải đợi kiến tánh thành Phật hoặc chứng quả vị này quả vị khác. hoặc sinh về cõi này, cõi kia hoặc nhập vào bản thể vạn hữu. 
Kính thưa các bạn! Tất cả những quả vị từ xưa đến nay trong các kinh sách Đại Thừa đã xây dựng, đó là những cảnh giới không thực tế, mơ hồ, trừu tượng, ảo giác để lừa đảo mọi người.
Còn mục đích của đạo Phật xác định rất rõ ràng và cụ thể. Hôm nay chúng tôi xin xác quyết rõ ràng để các bạn tu tập cho cụ thể không còn hiểu biết một cách mơ hồ, và không còn sống trong những cảm giác ảo tưởng cõi này, cõi kia nữa.
Kính thưa các bạn! Các bạn có biết tâm vô lậu là gì không? Khi nào người ta chê bạn, nói xấu, mạ lị, mạt sát, chửi mắng bạn, mà tâm bạn vẫn thản nhiên không buồn giận hờn, không oán ghét vv… đó là tâm vô lậu.
Khi nào bạn không thương, không ghét một người nào, không sợ hãi, lo lắng sống luôn luôn thanh thản, an ổn và không có một chướng ngại gì trong tâm các bạn, đó là tâm vô lậu. Khi nào tâm các bạn không còn tham muốn một vật gì, dù đó là một món ăn rất ngon, rất thích khẩu của các bạn, nhưng các bạn cũng thản nhiên không thèm, không ham thích muốn ăn. Có thì ăn, không có ăn thì thôi, đó là tâm vô lậu.
Khi nào các bạn thấy sự lười biếng, hôn trầm, thùy miên không còn tấn công các bạn khi các bạn muốn thức dù bất cứ giờ nào, các bạn cũng đều tỉnh thức, đó là tâm vô lậu của các bạn.
Khi nào tất cả mọi cảm thọ đến với bạn mà tâm bạn không lo, không sợ hãi thì đó là tâm vô lậu.
Khi nào tất cả mọi pháp làm động khiến tâm các bạn bất an, nhưng các bạn vẫn thản nhiên, với tâm thanh thản, an lạc và vô sự thì đó là tâm vô lậu.
Khi nào các bạn nhận xét thấy rõ ràng tâm mình được như vậy là các bạn đã tu xong, tức là các bạn đã chứng đạt chân lí, nếu còn chưa được như vậy thì các bạn phải tác ý để tâm các bạn bất động, tức là các bạn còn đang hộ trì chân lí, đó là các bạn còn tu tập. Như vậy chỗ tu tập còn hay đã xong là các bạn đều biết rất rõ ràng.
Tâm vô lậu bất động là chỗ các bạn an trú trong khi các bạn còn sống cũng như lúc các bạn đã chết. Tâm hữu lậu chưa bất động là không phải chỗ các bạn an trú. Mà nếu các bạn an trú nơi đó thì các bạn phải chịu nhiều đau khổ. Muốn không an trú chỗ tâm hữu lậu thì các bạn phải tu tập nhiều nữa.
Như vậy chỗ tu tập để chứng đạt chân lí của Phật giáo không phải khó khăn, chỉ có tu tập đúng pháp thì tâm lậu hoặc sẽ được diệt sạch. Tâm diệt sạch lậu hoặc là chỗ an trú của Phật. Xin các bạn lưu ý những lời dạy này.

NGŨ TRIỀN CÁI VÀ THẤT KIẾT SỬ

(Trích từ CẨM NANG TU PHẬT 1 – THẦY THÍCH THÔNG LẠC)

Ngũ Cái hay Ngũ Triền Cái là năm cái màn che đậy: 

1/. Tham triền cái : Tham là lòng ham muốn của mình che đậy, làm cho mình không thấy vật ham muốn đó sẽ làm khổ mình. 
-- Thí dụ thấy một chiếc xe Dream (xe mô tô hiện đại của Nhật) khởi tâm ham muốn, tìm mọi cách làm để mua sắm nó. Đó là cái khổ thứ nhất.
-- Đến khi sắm được xe, chạy xảy ra tai nạn gảy chân tay. Đó là cái khổ thứ hai. Thế mà khi lòng ham muốn nổi lên, người ta không thấy cái khổ. Cho nên gọi đó là triền cái (ngăn che không thấy khổ). 
2/. Sân triền cái là lòng tức giận, ngăn che không thấy khổ. Thí dụ khi nghe người khác mạ nhục, mình tức giận rút cây, hoặc dao rựa ra đánh, hoặc chém người cho hã giận. Khi hết giận thì sự khổ phải ôm lấy, như nằm nhà thương, hoặc ở tù. Lòng sân che đậy không thấy sự khổ sẽ đến với mình đầy dẫy trong cuộc sống hàng ngày nên gọi là sân triền cái. 
3/. Si triền cái là cái màn che trí tuệ làm cho nó không hiểu biết chánh pháp, tà pháp, thiện ác. Ví dụ, người ta nói thiền xuất hồn là của đạo Phật, chúng ta liền tin theo, mà không cần suy nghĩ, đó là si triền cái. 
4/. Mạn triền cái là cái tự kiêu, tự đại che ngăn làm cho mình không thấy cái chỗ dở của mình. Thí dụ như mình ăn phi thời, phá giới luật, có vợ con, mà vẫn xem mình là một thầy tu, hiu hiu tự đắc, lên pháp đường thuyết giảng mà không biết xấu hỗ, thì đó là bị mạn triền cái ngăn che. 
5/. Nghi triền cái là cái lòng nghi ngờ ngăn che không thấy sự thật. Ví dụ, người ta nói một số pháp môn tu tập hiện hành là mê tín, là không đúng theo lời dạy của Phật, mình không tin, nghi ngờ lời nói đó sai (vì các pháp môn nầy do các Thầy, Tổ truyền lại). Chỉ tin vào Thầy, Tổ mà không chịu tìm hiểu cho rõ ràng, đó là bị nghi triền cái che ngăn. 

THẤT KIẾT SỬ 

Thất Kiết Sử là bảy pháp trói buộc con người, khiến cho đau khổ. Bảy pháp đó gồm có: 
1/. Ai kiết sử: lòng thương yêu, ưa mến, thích thú của mình đã trói buộc lại mình, làm khổ mình. 
2/. Sân kiết sử: lòng sân hận, buồn tức, giận dữ của mình đã trói buộc lại mình, làm hổ mình. 
3/. Kiến kiết sử: sự cố chấp cho sự hiểu biết của mình là đúng, còn tất cả sự hiểu biết khác cho là sai. Thế là nó đã trói buộc mình, làm khổ mình, và ai nói gì mình cũng chẳng nghe. 
4/. Nghi kiết sử: lòng nghi ngờ tự trói buộc mình, chẳng bao giờ chịu rời bỏ khiến cho mình mất hết nghị lực. 
5/. Mạn kiết sử: lòng ngã mạn, kiêu căng, tự đắc, tự trói buộc mình, lúc nào cũng tự xem mình là trên hết. Chính lòng hiu hiu tự đắc nầy đã làm khổ mình mà không dứt bỏ. 
6/. Hữu tham kiết sử: những vật mà mình buông bỏ chẳng được, cứ bị nó trói buộc, làm khổ mình hoài. 
7/. Vô minh kiết sử: điều mình không hiểu mà cứ nghĩ rằng mình đã hiểu. 
-- Thí dụ: không hiểu Tứ Thánh Định mà cứ cho là mình hiểu nên xếp nó vào loại Tiểu Thừa thiền, phàm phu thiền, ngoại đạo thiền. Không ngờ thiền nầy là Thánh Trú, là Phạm Trú, Như Lai Trú, vv..

TU TẬP GIẢI THOÁT 1

Tóm Tắt Bài Giảng "Tu Tập Giải Thoát"
Bài giảng này của thầy Thích Thông Lạc được cắt ra làm 4 bài nhỏ chỉ rõ cách thức tu tập giải thoát đún
g của đạo Phật, để mọi người không bị lọt vào tu ức chế tâm.
Phần I
1. Trong quá trình tu tập, chúng ta tu chỉ cần sơ sót một chút là ức chế tâm, cái sơ sót đó là khi chúng ta ráng quá là nó sai. Khi tu tập chúng ta phải thấy được sự giải thoát ngay liền làm cho thân tâm thanh thản, an lạc và vô sự.
2. Nó thanh thản như thế nào, nó an lạc như thế nào. Nó an lạc là cái thân không có mệt nhọc, không có khó chịu. Khi cái thân nó an lạc sẽ làm cho cái tâm thanh thản, không có nghĩ ngợi cái này cái nọ, không bị chướng ngại nào cả.
3. Do vậy khi tu chúng ta nương vào pháp của Phật chúng ta phải luôn cảm thấy sự an lạc của cái thân, giống như bây giờ chúng ta tự xem xét lại cái thân hiện giờ có an lạc không, có đau nhức chỗ này chỗ kia không, hoặc nó mỏi mệt, hoặc nó lừ đừ hay không, nếu không thì nó đang an lạc. Còn nếu cái thân lừ đừ, buồn ngủ, gục tới gục lui thì sao gọi là an lạc. Như vậy do chỗ nào mà chúng ta tu sai? Đó là cách để chúng ta xét.
4. Ngược lại, cảm thấy tâm thanh thản, không có bị hôn trầm thùy miên thì là tốt. Pháp tu không có làm cho chúng ta khổ chỗ nào hết, do vậy đức Phật nói “pháp ta không có thời gian, tới để mà thấy” nghĩa là khi tu không phải tới một ngày nào đó mới thấy sự giải thoát, mà ngay khi tu tập là thấy sự giải thoát ngay.
5. Vậy thì bây giờ mình xét: tâm mình nó không sân nè, không tham nè, không có gì hết thì nó giải thoát chứ gì. Thân nó không đau nhức, bệnh tật, lừ đừ, hôn trầm thùy miên, … thì nó giải thoát chứ gì. Vậy là tâm đang thanh thản an lạc. Mình cứ nghiệm xét đi.
6. Rồi bây biờ mình bắt đầu tu tập, đứng lên ngồi xuống, nghe nó mệt nhọc. Ví dụ chúng ta tu 5 hơi thở đi 1 vòng chưa mệt nhọc, 2 vòng chưa mệt nhọc,… 5 vòng mệt nhọc thì chúng ta ngồi nghỉ. Nghĩa là có chướng ngại rồi, có mệt nhọc thì mình ngồi mình nghỉ ngay. Nghỉ một chút rồi một lát tu lại. Đó là sự giải thoát.
7. Còn bây giờ nghe thầy nói được tu từ 10 phút đến 30 phút. Cố gắng cố gắng tu 10 phút được rồi, ráng tu 30 phút thấy nó mệt nhọc quá mà vẫn ráng tu cho được 30 phút. Chiếm cái giờ của mình làm cho đúng, chứ thiệt ra tu phải giải thoát chứ không phải chiếm cái giờ tu cho có cái giờ, mà tu phải tìm thấy từng giây, từng phút trong sự giải thoát đó mời đúng.
8. Cho nên người ta tu thấy nhẹ nhàng thanh thản, càng tu càng thích, càng thấy tiến bộ. Tiến bộ ở chỗ nào? Tiến bộ không phải ở chỗ ngồi nhiều, tiến bộ ở chỗ chúng ta thấy cái tâm nó thanh thản an lạc và vô sự. Hằng ngày chúng ta thấy thích thú, nó làm cho chúng ta vui, thấy thích sống một mình, không duyên ra cảnh. Còn chúng ta thấy mệt nhọc, buồn bã, buồn ngủ, đủ thứ hết, tại vì mình tu sai.
9. Chúng ta xét sự tu tập trong đạo Phật. Thầy đã nêu lên như chữ “thanh thản”, “an lạc”, “ vô sự” thì luôn luôn lúc nào tu chúng ta cũng cảm thấy “thanh thản, an lạc và vô sự”. Nếu không thanh thản an lạc vô sự là sai. Nó có một trạng thái gì là sai.
10. Ví du bây giờ trong cái giờ chúng ta tu từ 7h-10h, trong khoảng thời gian từ 7-8h, 30 phút đầu chúng ta nghe nó tốt, 30 phút sau nghe nó mệt nhọc, thì chúng ta ngồi nghỉ, xả, đừng tu tập nữa. Ngồi chơi, xả nghỉ. Khi đó nếu chúng ta ngồi chơi xả mà buồn ngủ thì chúng ta đi kinh hành, đi tới đi lui như một người đi vô sự, chứ không phải như một người đi tập trung cho nó mệt nhọc nữa, đi cho nó động thân không buồn ngủ nữa, đi tới đi lui, đi vòng vòng, đi với một người vô sự. Bây giờ nó mỏi chân quả, mỏi chân là có chướng ngại rồi, mất đi sự an lạc rồi, thì mình ngồi lại.
11. Khi ngồi lại, buồn ngủ thì chúng ta dùng hơi thở, hít vào sâu chậm chậm, thở ra chậm chậm 1 hơi thở, sau đó thì hít vào thở ra 5 hơi thở bình thường, cứ như vậy 1 hơi thở chậm chậm, 5 hơi thở bình thường cho đến khi hết hôn trầm thùy miên. Khi có tỉnh giác thì chúng ta tu sẽ cảm thấy thoải mái thân an lạc trở lại. Không thở 2 hơi thở chậm liên tục, thở như vậy sẽ ức chế. Chỉ thở 1 hơi thở chậm, nhẹ và 5 hơi thở bình thường thôi, không thở 2 hơi thở chậm, 5 hơi thở bình thường.
12. Có 3 cách phá hôn trầm; cách đầu tiên khi đang bị hôn trầm thì đi kinh hành 20 bước, ngồi thở 5 hơi thở, đứng dậy đi 20 bước rồi lại ngồi thở 5 hơi thở. Cách thứ hai cũng phá đang bị hôn trầm là ngồi hít thở 1 hơi thở chậm nhẹ sâu, sau đó thở lại bình thường 5 hơi thở. Cách thứ 3 là ngăn ngừa hôn trầm thùy miên bằng cách đi kinh hành, chúng ta biết giờ đó sẽ bị hôn trầm thì chúng ta đứng dậy đi trước, đi nhẹ nhàng như người vô sự. Cách 1 và 2 dùng để đối trị, cách 3 dùng để ngăn ngừa hôn trầm.
13. Do vậy tu phải khéo léo, tu nhiều quá thì bị hôn trầm, sống độc cư quá thì bị tuôn trào. Do vậy khi độc cư chúng ta cũng phải khéo léo sử dụng: cái giờ này chúng ta cố gắng phòng hộ mình, giờ sau chúng ta đi kinh hành hoặc chúng ta lao tác, nhổ cỏ, quét sân hoặc làm cái gì đó để cho nó thoái mái dễ chịu hơn là chúng ta ngồi không, vì khi chúng ta ngồi không thì chúng ta không chịu nổi sự tuôn trào đâu.
14. Sau khi cái tâm nó chịu độc cư rồi, thì nó không cần chúng ta lao động đâu. Nghĩa là nó không thích lao đông đâu, nó chỉ thích vô sự thôi. Còn bây giờ nó cảm thấy cô đơn, thích lao động. Chúng ta biết cái thích của nó để nương dần hướng dẫn nó đi vào đôc cư. Thường khi chúng ta bị hôn trầm, thùy miên, vô ký, cô đơn thì chúng ta đi kinh hành một vòng rộng, đi như vậy thì không phòng hộ 6 căn được, do vậy chúng ta chỉ nên đi vòng hẹp thôi, xung quanh thất của mình thôi.
15. Còn bây giờ, nếu lúc đó chúng ta không chịu đi, trong thấy đóng cửa thì sẽ bị hôn trầm. Do vậy khi bị hôn trầm thì chúng ta không nên đi một vòng quá hẹp trong phòng, mà nên đi ra ngoài cho thoái mái, nhưng không nên đi vòng rộng quá vì khi đó mắt của chúng ta sẽ không được phòng hộ dễ dính mắc, bị phóng dật đến những chuyện xung quanh.
16. Do vậy khi tu tập cần phải luôn phòng hộ 6 căn và giữ gìn thân tâm luôn thanh thản an lạc và vô sự. Không tu căng quá mà cũng không lơ là quá giống như dây đàn lúc căng lúc chùn quá thì không đàn không được. Cố gắng ngăn không bị hôn trầm bằng cách đi chơi, đi vô sự, mắt nhìn xuống không ngó 2 bên. Nhìn xuống thực hiện Từ tâm tránh giẫm đạp chúng sinh, đi như người vô sự, không tập trung vào bước đi, giúp đỡ, cứu giúp các loài vật đang gặp nạn, làm những công việc đó là tu lòng Từ, chúng ta sẽ thấy tâm thanh thản an lạc vô sự. Do vậy khi tu, chúng ta chỉ cần làm việc gì mà thấy tâm thanh thản an lạc và vô sự thì đó là cách tu đúng.
17. Chỉ cần tu đúng lòng Từ thì cũng chứng đạo.
18. Hằng ngày chúng ta chỉ cần khởi lòng từ bi, thể hiện mọi hành động như cứu giúp các loài vật đang đau khổ thì chúng ta cũng thấy rõ hạnh phúc, thanh thản an lạc và vô sự trong lòng chúng ta. Chính từ tâm đó mà người khác chửi mình và mắng mình, mình không có giận hờn, không còn tham muốn nữa, chính từ tâm đó làm cho ta ly dục ly ác pháp nhập sơ thiền.
19. Tu Tứ Vô Lượng Tâm đâu có dạy chúng ta ngồi thiền đi kinh hành, hằng ngày chỉ khởi lòng thương yêu, chăm sóc các loài vật xung quanh để chúng thoát khỏi sự vô tình các loài vật giết hại nhau, … chỉ khởi tâm đừng có hại nhau thì cuối cùng chứng quả Alahan. Tu rất tự nhiên. Không cần ngồi thiền nhập định gì cả.
20. Khi đức Phật dạy ông Châu Lợi Bàn Đạt cũng vậy, chỉ lo ngồi quét tâm trên tứ niệm xứ, đâu có dạy ông ngồi thiền, hơi thở, hít thở gì cả, đâu có dạy ông nhiều, trái lại ông chỉ ngồi đó quét cái tâm của ông thôi, vậy thì ông quét cái tâm bằng cách nào? ông phải nhìn thân thọ tâm pháp của ông, có cái gì trên đó là ông đẩy lui thôi, tức là ông quét sạch cái tâm đó. Nói “thân, thọ, tâm, pháp” chứ sự thật mỗi mỗi đều do cái tâm của mình.
21. Trong kinh pháp cú, tâm dẫn đầu mà. Nếu tâm làm điều thiện thì nó giải quyết được 4 chỗ này được đẩy lui và chướng ngại pháp. Nếu nó làm điều ác thì 4 chỗ này phải bị thọ khổ đau của nó. Cho nên rõ là Tâm dẫn đầu, mà nói đến tâm tức là ở trên tứ niệm xứ quét cái tâm cho sạch sẽ, làm cho tâm thanh tịnh.
22. Khi thầy nhận ra được pháp của Phật, pháp “như lý tác ý”. Thầy đâu còn khổ khi còn tu pháp Tri Vọng đâu? Thầy ngồi chơi, hoặc ngồi bán già, hoặc kiết già, hoặc đi kinh hành thầy đều quan sát 4 chỗ thân, thọ, tâm, pháp của mình với một người vô sự. Rồi cứ mỗi chướng ngại gì trên đó đẩy lui mà không chương ngại, thầy thường nhắc tâm “tâm như đất, không có tham sân si nữa” nhắc nữa, nhắc mãi, nhắc rồi cứ thanh thản mà đi chơi chứ không có làm gì nữa hết, thấy rõ nó thanh thản an lạc và vô sự. Và cuối cùng tâm thầy hoàn toàn không phóng dật, luôn luôn lúc nào nó định trên hơi thở của nó. Đó là cách tu rất tự nhiên và nhẹ nhàng.
23. Do đó suy ra các thánh tăng ngày xưa như em của ông Cấp Cô Độc cũng thực hiện lòng từ. Hằng ngày ông sống xung quanh thất không chơi với ai. Nhưng ông khởi sự lòng thương yêu đối với các loài vật xung quanh thất ông. Mỗi một con vật rơi trong vũng nước, con kiến nhỏ, ông đều vớt bỏ lên bờ, ông dùng những chiếc lá cây cứu bao nhiêu loài vật bị một cơn mưa, do đó ông thấy lòng ông thanh thản an lạc và vô sự. Và từ đó lòng từ của ông phát triển đến mức độ không còn tham sân si nữa. Ông tu rất tự nhiên, đâu cần phải ngồi thiền, đâu cần phải niệm Phật, tu Tứ Niệm Xứ gì đâu, nhưng mà khi khởi lòng từ thì tâm tham sân si đều bị quét sạch.
24. Tuy là chúng ta tu theo đạo Phật, 37 phẩm trợ đạo rất nhiều, từ Tứ Chánh Cần,Tứ Niệm Xứ, Tứ Bất Hoại Tịnh,Tứ Như Ý Túc cho đến Tứ Thánh Định. Tất cả những pháp này chỉ cần thực hiện tâm không còn tham sân si nữa mà thôi.
25. Nhưng chúng ta mỗi người có một căn duyên với một pháp nào đó, khi hợp với pháp nào thì chúng ta ôm pháp đó mà thực hiện. Có người tu Tứ Vô Lượng Tâm, có người tu Tứ Niệm Xứ. Nếu chúng ta ngồi đây mà thấy trên Tứ Niệm Xứ mà tâm thanh thản an lạc và vô sự thì chúng ta dùng pháp Tứ Niệm Xứ mà tu. Còn nếu chúng ta dùng pháp Tứ Chánh Cần thì chúng ta phải tu định niệm hơi thờ, tu chánh niệm tỉnh giác, tu định sáng suốt, … Pháp Tứ Chánh Cần nó có nhiều pháp, có pháp ngăn và pháp diệt, cho nên nó nhọc nhằn, do vậy pháp Tứ Chánh Cần dùng cho người cư sĩ, tại sao? Vì người cư sĩ người ta chung đụng với ác pháp, người ta phải ngăn và diệt nó. Còn chúng ta là người tu sĩ, chúng ta chỉ ngồi không, có làm gì đâu, không có lao tác, chúng ta khởi sự thì quá dễ dàng cho nên 7 tháng, 7 năm là chúng ta thành tựu.
26. Vậy tại sao có nhiều người tu vài tháng rồi mà chưa thấy kết quả. Tại vì chúng ta phóng duyên nhiều quá. Khi vào đây phải khép chặt, quyết định là 7 tháng phải thành tựu. Như vậy sự nhiệt tâm của mình phải làm sao, làm sao đừng cho ức chế tâm mặc dù pháp đó là pháp của Phật. Do vậy từ xưa tới giờ các Tổ đâu phải tu sai pháp của Phật, nhưng tại vì các Ngài tu không đúng cách mà bị ức chế tâm, từ đó kiến giải đẻ ra pháp ức chế, chớ đâu có gì sai, nhưng khi bị ức chế, thì nó giống pháp của ngoại đạo. Khi pháp Phật giống pháp của ngoại đạo thì nó bị đồng hóa với pháp ngoại đạo. Do vậy các Tổ chỉ vô tình tu sai lọt vào tu ức chế mà không biết. Pháp thì đúng, nhưng hành động tu thì sai.
27. Khi thầy nhận ra được cách tu do đức Phật dạy trong kinh nguyên thủy, thầy thấy nhẹ nhàng quá, không còn khổ như trước kia nữa. Do đó, bây giờ thầy ngồi chơi vẫn giữ được Tứ Niệm Xứ của mình thanh thản an lạc vô sự. Chỉ còn đợi đủ năng lực của nó thì nhập các định. Sự suy tư của thầy như vậy nó giúp cho thầy đi đúng quỷ đạo của đạo Phật. Làm cho thầy không còn ức chế tâm, ngồi chơi, chớ không còn ngồi đó giữ tâm không vọng tưởng, ngồi chơi để mà quan sát thân thọ tâm pháp của mình có thanh thản an lạc và vô sự hay không. Chỉ xem nó có thanh thản an lạc hay không? chỉ xem nó có giải thoát hay không?
28. Nếu nó không giải thoát thì nó phải khởi niệm nào đó, nếu có thì nó phải có tham, sân, si. Có phiền não, có lo thì nó mới khởi những niệm đó. Còn niệm không tham, không sân, không si thì nó đi vào chỗ nào? Truy ra tất cả những niệm đó, sự truy ra đó thấy được sự xả ly hơn là ngồi ức chế tâm trong vọng tưởng.
29. Do vậy từ khi biết được pháp tu của đạo Phật, thầy thấy được trong sự tu tập của các con có sự ức chế nào đó, chứ chưa phải xả. Thầy nhìn thấy nhưng không biết nói làm sao để các con xả. Dường như khi tu là các con lọt vào cái thói quen ức chế. Do vậy khi các con trình cho thầy là thầy biết có ức chế, dù là ít nhiều, làm cho các con thấy nó mệt nhọc, khó khăn. Càng tu tập, càng cố gắng tu tập nghe nó mệt nhọc, càng bị hôn trầm. Càng cố gắng, càng nổ lực, càng loạn tưởng . Nó sanh ra điều này, sanh ra điều kia. Nó luận điều này, luận điều kia, nó luận đến nổi nó không còn tin thầy nữa. Tất cả những chỗ này đều do chỗ ức chế tâm mà sanh ra. Thầy biết.
30. Cho nên hôm này thầy nói: tu làm sao mà nhẹ nhàng, phải thấy được sự giải thoát của tâm hồn.
31. Sống giống như một người sống bình thường. Người bình thường họ sống chạy theo dục lạc, còn mình thì cũng sống bình thường như họ, chỉ duy nhất là không tham sân si mà thôi. Chỉ duy nhất vậy thôi, khi nào trong tâm có tham sân si thì đuổi ra, làm sao cho các niệm đó không còn nữa mà thôi. Còn cái niệm mà duy nhất gọi là vô lậu đó là cái niệm thanh thản, an lạc và vô sự. Cái niệm đó chính là sự giải thoát của tâm hồn chúng ta.
32. Do vậy từ đây các con hãy xét lại và sống cho được giới luật: ăn một ngày một bữa, sống độc cư trầm lặng như con tê ngưu một sừng. Phải quyết định trong từ tháng thứ 1 đến tháng thứ 7 chúng ta phải quyết định chứng đạt được tam minh. Dùng mọi cách thức phá cho được hôn trầm. Phá bằng 3 phương pháp nói ở trên. Không được để trạng thái bị hôn trầm rồi mới phá, cho nên chúng ta ngăn ngừa trước, khi xảy ra rồi thì có pháp phá nhẹ nhàng. Đợi nó bị hôn trầm, đi ủi qua ủi lại thì quá nặng, quá vất vả quả khổ. Do vậy trong bước đường tu mà để xảy ra những trường hợp như vậy thì sẽ sanh ra nhiều bệnh tật làm cho đường tu tập của chúng ta bị thối chuyển.
33. Các con nhớ trong quá trình tu tập, thanh thản an lạc và vô sự là một trạng thái vô lậu. Do vậy chúng ta biết được tâm mình giải thoát từng phút từng giây, nó ở chỗ nào đều biết được. Và sự tu tập của chúng ta tự nhiên biết hơi thở là tốt, đừng có gò bó nó nhiều quá trong hơi thở là không tốt. Cũng như gò bó nó trên từng bước đi là không tốt, mà để tự nhiên nó biết bước đi là tốt nhất.
34. Chúng ta chỉ duy nhất có một pháp tu tập nhiều nhất đó là pháp như lý tác ý. Luôn luôn lúc nào cũng nhớ: “tâm như đất, không có tham sân si” hay hoặc “tâm ly dục ly ác pháp nhập sơ thiền”. Cứ nhắc bao nhiêu đủ cho chúng ta trong bước đường tu tập. Tâm hồn phải thanh thản an lạc và vô sự, nhưng phải sống trọn vẹn độc cư, không tiếp duyên ngoại duyên. Vì tiếp duyên ngoại duyên thì không bao giờ chúng ta thực hiện được “tâm không phóng dật”.
35. Thầy bảo đảm nếu tu đúng như lời thầy dạy thì trong vòng 7 tháng 7 năm là giải thoát. Còn tu không đúng cách thì 70 năm, 700 năm cũng không giải thoát. Giữ thân tâm đúng cách thì 7 năm là quá lâu, chỉ cần 7 tháng sẽ đạt được.
36. Không cần tu nhiều đời nhiều kiếp. Đức Phật đã xác định 7 ngày 7 tháng 7 năm thì sự giải thoát là thực tế nếu tu đúng.
37. Thời gian nhập định không lâu, chỉ cần ra lệnh là được, sau đó hướng tâm về quá khứ; thiên nhãn minh, thấy biết cái này cái kia, tất cả không gian vũ trụ này nó đều biết hết; tìm hiểu rõ lậu tận minh, truy ra nguồn gốc tái sanh luân hồi của con người, tìm hiểu xem nó hiểu như thể nào,…sau đó nó thấy mầm tái sanh luân hồi trên thân thọ tâm pháp không còn nữa. Tức là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu cuả nó không còn nữa. Tức là nó đã chấm dứt tái sanh luân hồi, nghĩa là nó biết chỗ nó về rồi.
38. Và bây giờ thầy đã biết, thầy nói lại cho các con biết tâm thanh thản an lạc và vô sự là trạng thái mà chư Phật đang ở đó, là chỗ bất động tâm của mọi người. Thế mà các con không giữ được trạng thái bất động tâm này để cho mình bị trôi lăn trong lục đạo sao? Cho nên các con nghe những người đệ tử của thầy họ sắp sửa giờ chết, thầy bảo họ cố gắng giữ tâm thanh thản an lạc vô sự trước những cơn đau như buốt mà vẫn thản nhiên, xem nó là vô thường. Thọ là vô thường mà, cái thọ này vô thường, thường hằng đâu mà sợ hãi , ai cũng đau cũng khổ rồi cũng chết. 
Chúng ta là người tu sĩ phải gan dạ, phải vững tâm, không hề sợ hãi trước cái đau đớn đó, do đó chúng ta thanh thản an lạc và vô sự trong cái sự thọ khổ đó. Cuối cùng thì chúng ta vào Niết Bàn. Đó là một chỉ điểm rất rõ ràng để chúng ta biết trạng thái đó , để chúng ta nắm giữ nó, để mà tu hành.
39. Bởi vì mục đích của đạo Phật là bất động tâm. Bất động tâm thì nó phải có trạng thái thanh thản an lạc và vô sự. Thầy đã chỉ điềm cho tất cả ai cũng biết hết rồi. Chỉ bây giờ quý vị có giữ được cái tâm này không? Cái Thân, Thọ, Tâm, Pháp của quý vị có giữ được trọn vẹn trạng thái này không? Nếu trạng thái được 1 phút thì quý vị đang ở Niết Bàn 1 phút, 2 phút thì quý vị đang ở Niết Bàn 2 phút, 1 giờ thì quý vị đang ở Niết Bàn 1 giờ, 2 giờ thì quý vị đang ở Niết Bàn 2 giờ.
40. Thầy đã xác định nếu 24 tiếng đồng hồ mà được luôn như vậy thì quý vị sẽ nhập các định làm chủ sự sống chết một cách cụ thể. Đâu có nhiều. Còn đức Phật thì xác định từ 1 ngày đến 7 ngày. Nếu trên thân thọ tâm pháp mà thanh thản an lạc và vô sự trong vòng 1 ngày, 24 tiếng thì sẽ thành tựu. Trong vòng 24 tiếng, tâm không phóng dật là chúng ta thành chánh giác.
41. Do vậy pháp của Phật đơn giản và cụ thể, không có khó khăn, không có gò bó, không có luyện tập làm cho cái thân của mình khổ.
(Còn tiếp phần 2, 3, 4)

TU TẬP GIẢI THOÁT 2

Tóm Tắt Bài Giảng "Tu Tập Giải Thoát"
Bài giảng này của thầy Thích Thông Lạc được cắt ra làm 4 bài nhỏ chỉ rõ cách thức tu tập giải thoát đún
g của đạo Phật, để mọi người không bị lọt vào tu ức chế tâm.
Phần II:
1.Ngồi chơi quét tâm, thầy không biết dùng danh từ nào để diễn tả giống như một người vô sự mà có việc làm. Việc làm ở đây là quét những tham muốn, những lậu hoặc để tâm nó trở thành vô sự thật sự, còn thực tế mà nói thì bây giờ nó vẫn còn tham sân si thì vẫn còn là hữu sự.
2.Hữu sự là khi bị chướng ngại, bị các dục và ác pháp xâm chiếm tâm nên chúng ta không còn là vô sự, mà là người hữu sự. Chớ không phải hữu sự đi trồng cái cây kia, để có trái kia mà ăn, hoặc đi ra nấu cơm, nấu nướng để mà ăn. Vậy là chúng ta chạy theo dục, chớ không phải là người vô sự của sự giải thoát. Trái lại chúng ta chỉ xin cơm ăn mà thôi. Ăn no rồi thì tiếp tục quét tâm để trở thành vô sự. Chỉ tu bấy nhiêu thôi, chớ có tu gì đâu!?
3.Đó là cái mà đức Phật gọi là ly dục, ly ác pháp, tức là làm cho tất cả dục và ác pháp rời khỏi thân tâm của mình, để thân tâm của mình trở thành vô sự.
4.Khi mình trở thành vô sự thì ngồi chơi, chứ đâu cần tu gì nữa. Nhưng bởi vì có những cái tâm phóng dật, có những tham muốn, có những phiền não bất toại nguyện đó trên thân thọ tâm pháp của nó, buộc lòng mình phải đuổi nó ra, thành ra mình trở thành người hữu sự, chứ thực ra mình đang tìm cách thức sống vô sự.
5.Ngồi đây không phải là tập trung vào hơi thở, biết hơi thở ra vô, lấy hơi thở biến thành một việc làm, như vậy là sai. Ở đây mình đang là người vô sự không có tham sân si, mình lại lấy hơi thở ra làm việc làm, hoặc mình đang ngồi chơi vô sự lấy việc đi kinh hành, tập trung vào bước đi để trở thành người hữu sự. Thay vì bây giờ đi chơi thì có gì đâu, vì đó là người vô sự, lại tập trung vào bước đi, từng bước, từng bước thì rõ ràng đây là người hữu sự.
6.Nếu mình muốn phá hôn trầm, thì buộc mình phải đi kinh hành, để cái thân đi tới đi lui động thân như người vô sự để phá hôn trầm, chớ mình không phải đi là đi tập trung ở dưới bước đi, mà lúc này nó là người vô sự, nó muốn đi nó đi, nó biết chứ mình đâu có ép, mình đâu có ép cái tâm biết bước đi. Bây giờ mình tập trung biết bước đi là tu sai pháp.
7.Còn bây giờ ngồi đây vô sự nó biết hơi thở tự nhiên, chứ mình đâu có bắt nó biết hơi thở bao giờ. Nếu bắt buộc nó biết hơi thở ra vô thì mình đã trở thành hữu sự chứ không phải vô sự. Chỉ cần sai một chút xíu là trở thành ức chế, người hữu sự chứ không phải vô sự.
8.Còn thầy dạy tu 5 hơi thở, đi kinh hành hoặc thở hơi thở chậm nhẹ với mục đích là trị hôn trầm thùy miên, chỉ tu tập 5-10 ngày cho biết rồi dẹp nó đi. Chỉ khi đang hữu sự bị hôn trầm thùy miên muốn diệt hôn trầm thùy miên thì đem các pháp đi kinh hành thở 5 hơi thở hoặc thở hơi thở chậm nhẹ ra để đối trị. Diệt xong trở thành người vô sự thì không cần đi kinh hành hoặc thở hơi thở chậm nhẹ nữa. Còn nếu ai cứ tập các pháp đi kinh hành thở 5 hơi thở hoặc hơi thở chậm nhẹ từ ngày này qua ngày nọ, từ tháng này qua tháng nọ, 1 năm,… thì người đó đã tu sai, tu ức chế.
9.Sau đó trở về tứ niệm xứ mà quét tâm, chứ không phải đang ở tứ niệm xứ mà tu các pháp này. Các pháp này là phương pháp đối trị các tâm khác. Phải hiểu như vậy thì tu không bị ức chế, không bị sai pháp của Phật.
10. Khi đang ở tứ niệm xứ thì khi có ác pháp thì không còn quán, chỉ dùng pháp như ý tác ý đuổi đi, còn quán là còn động. Bởi vì khi tu tứ chánh cần chúng ta đã đem các dục lậu, ái kiết sử,v.v… ra quán xét hết rồi, đã điểm mặt từng thằng đây là dục lậu, đây là ái kiết sử,…hết rồi, do vậy trên tứ niệm xứ chỉ cần nhắc tâm quét sạch đuổi nó đi thôi. Niệm nó khởi ra là mình biết nó là gì rồi. Tứ niệm xứ là chúng ta phải thông suốt hết.
11. Cho nên bây giờ các con phải học thuộc biết phân biết 17 kiết sử, ngủ triền cái, sự khác nhau tham sân si trong ngủ triền cái và 17 kiết sử là gì? Phải học cho thông, để biết tâm niệm của mình nằm ở chỗ nào? Rồi sau đó các con phải học dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Phải biết rõ niệm nào là dục lậu, niệm nào là hữu lậu và niệm nào là vô minh lậu, để khi các niệm khởi ra thì điểm mặt nó ngay, mày là dục lậu, mày là hữu lậu, mày là vô minh lậu đi đi, mày là thất kiết sử đi đi.
12. Người trên tứ niệm xứ không còn truy tìm niệm này là gì nữa, họ đã hiểu rõ tất cả, chỉ biết áp dụng hoặc giải đáp những bài toán khó trên thân thọ tâm pháp. Chứ không còn phải học công thức, định lý để làm hoặc giải đáp bài toán. Ở đây đã học xong hết rồi, thông suốt nó hết rồi, chỉ còn biết áp dụng nó trên tứ niệm xứ. Vậy mới chỉ cần 7 ngày, 7 tháng, 7 năm để thành tựu. 
(Còn tiếp phần 3, 4)

TU TẬP GIẢI THOÁT 3

Tóm Tắt Bài Giảng "Tu Tập Giải Thoát"
Bài giảng này của thầy Thích Thông Lạc được cắt ra làm 4 bài nhỏ chỉ rõ cách thức tu tập giải thoát đún
g của đạo Phật, để mọi người không bị lọt vào tu ức chế tâm.
Phần III:
1.Thức khuya dậy sớm là để chọc tâm si cho nó lòi ra, có lòi ra thì chúng ta đi kinh hành diệt nó. Bởi vì hết si thì tham hết, sân hết. Chứ không phải thức khuya dậy sớm để tu tập.
2.Khi vô sự thì ngồi chơi, hữu sự thì quét nó đi. Khi vô sự đừng tu tập gì cả, chỉ cần ngồi chơi là đủ, ngồi chơi cho sướng. Ngồi chơi vô sự được suốt 24 tiếng đồng hồ không phóng dật là chứng đạo.
3.Khi tu hành thầy rất sợ, lìa xa cái chỗ có cái giường và cái ghế, vì ở đó nó sẽ cám dỗ mình nằm xuống, lười biếng, đủ thứ. Do vậy thầy phải đi xa, đi ra ngoài.
4.Khi quyết định tu, thì phải quyết định chết chiến đấu tận cùng với hôn trầm thùy miên, không lười biếng, không sợ hãi.
5.Khi tu không tránh được vô tình giẫm đạp chúng sinh, sau này khi tu chứng giải thoát, những chúng sinh đó sẽ trở thành đệ tử của con. Con sẽ độ hết chúng sinh này.
6.Bật đèn tu, để tâm si lòi ra, hôn trầm thùy miên xuất hiện, lúc đó chúng ta sẽ quyết chiến với chúng. Còn khi tu không bật đèn thì tâm si không lòi ra. Khi còn si, tâm si sẽ lý luận tu ban đêm không bật đèn thì sẽ tỉnh hơn. Tu là tu cho mình, chớ không phải cho người khác, do vậy khi tu thì không nên giả dối, nổ lực tu hành thực sự.
7.Đi kinh hành hùng hục là sai, đi kinh hành quá chậm cũng sai, chỉ đi thanh thản, vô sự thì mới đúng.
8.Khi cảm thọ quá đau đến thăm thì chúng ta phải ức chế bám chặt hơi thở, cắn răn chặt, gồng mình, để đẩy lui cảm thọ đi. Sau khi hết thọ rồi thì chúng ta xả ra, không dùng hơi thở tu tập nữa, chỉ ngồi chơi vô sự. Khi cần ức chế thì phải ức chế, khi không cần ức chế thì không nên ức chế là tu đúng, khi cần ức chế mà không ức chế, khi không cần ức chế mà ức chế là tu sai.
(Còn tiếp phần 4)

TU TẬP GIẢI THOÁT 4

Tóm Tắt Bài Giảng "Tu Tập Giải Thoát"
Bài giảng này của thầy Thích Thông Lạc được cắt ra làm 4 bài nhỏ chỉ rõ cách thức tu tập giải thoát đún
g của đạo Phật, để mọi người không bị lọt vào tu ức chế tâm.
Phần IV:
1.Những bài kinh trong kinh pháp cú là những lời dạy đạo đức nhân bản nhân quả, dạy chúng ta sống giải thoát bằng cách sống đạo đức, sống trong thiện pháp.
2.Trong chiếc áo cư sĩ, rất cần đọc bộ kinh pháp cú này để sống đạo đức không làm khổ người không làm khổ chúng sinh.
3.Muốn làm con người, thoát ra loài thú thì nên sống đúng 5 điều lành – ngủ giới của đạo Phật.
4.Người sống có đạo đức, thì người đó có trí tuệ, người có trí tuệ thì người đó có đạo đức. Khi có người chửi mắng, giận mình, mình không chửi lại là người có trí tuệ. Người có vốn, bỏ tiền ra mở xưởng để giúp cho bao nhiêu người có công ăn việc làm, trả lương đủ cho mọi người đủ sống, xóa đói giảm nghèo, thì người này có trí tuệ, luôn hướng về đạo đức. Còn những người có tiền chỉ lo nghĩ cách kiếm tiền cho mình, không biết nghĩ đến người khác, thì người này không có trí tuệ.
5.Người nào sống trong 10 điều lành thì người đó là người trời. 6 nẽo luân hồi đều ở đây, chứ không có cõi siêu hình nào cả, ai sống đúng 10 điều lành thì người đó đang sống trong cõi trời tại thế gian này.
Thiền sinh Chơn Như tóm tắt.