Showing posts with label Tri kiến. Show all posts
Showing posts with label Tri kiến. Show all posts

Thursday, 21 April 2022

SỰ GIẢI THOÁT NẰM Ở ĐÂU.

        

SỰ GIẢI THOÁT TRONG ĐẠO PHẬT


1- Người tu sinh khi vào tu viện không phải lo cái ăn, cái ở, cái mặc. Không còn lo nghĩ, sợ hãi hay buồn phiền vì danh lợi. 

2- Khi vào tu viện chỉ ngồi chơi không cần tu tập gì cả. Còn tu tập thì làm sao còn gọi là đạo giải thoát, làm sao còn gọi “ Đạo ta không có thời gian, đến để mà thấy”. 

- Chứng minh là trong Bức Tâm Thơ ngày 31-05-2011 sách ‘ Hướng dẫn nhắc nhỡ tu sinh’  trang 38, Thầy đã viết “Không phải lúc nào cũng đi kinh hành, mà còn phải đi THÂN HÀNH NIỆM khi bị hôn trầm, thùy miên, vô ký; còn bao nhiêu giờ khác thì ngồi chơi như người vô sự, đừng tu tập pháp môn nào khác nữa.”


- Trong sách ‘ Sống độc cư như con tê ngưu 1 sừng’  bài kệ thứ 5 có đoạn: “ Đạo Phật chỉ ngồi chơi MỘT MÌNH từ ngày này sang ngày khác, từ tháng này sang tháng khác, nhưng lúc nào cũng làm chủ thân tâm mình, thân tâm mình không sai bảo mình được, đó là mình đã tu chứng đạo.”

Đúng vậy, Người tu sinh suốt ngày sống một mình chỉ ngồi chơi, chờ đến giờ khất thực là đi lấy thức ăn, còn những giờ khác thì chỉ sống ngồi chơi 1 mình. Đó chính là sự giải thoát. 


3/ Tu là vệ sinh tâm ( Bài ‘Vệ Sinh Tâm’ trong sách ‘ Hướng dẫn nhắc nhỡ tu sinh’  trang 52) Thầy dạy “Khi trong tâm quý vị có cọng rác bẩn nào thì quét nó đi, quét đi thì tâm quý vị sẽ không còn rác bẩn nữa, và như vậy gọi là làm vệ sinh; còn không có rác bẩn thì thôi, cớ sao lại cứ quét mãi, như vậy quý vị có phải là người khùng không? 


Giải thoát của Phật giáo rất là đơn giản, đâu có gì cầu kỳ khó khăn, đâu có gì ngoài cuộc sống của con người? Họ cũng ăn, cũng làm việc bình thường. Nhưng họ khác hơn người thường là luôn luôn lúc nào cũng làm chủ tâm mình; vì thế đời sống của họ vui vẻ, an lạc; không có một việc gì làm cho họ buồn phiền, giận hờn hay cay cú.


Người nào có duyên, sáng nghe Phật thuyết thì chiều đã hoàn toàn giải thoát, chớ có tu tập cái gì nhiều đâu; chỉ cần buông xuống, không hơn thua ai cả là giải thoát. Cho nên đạo Phật duy nhất chỉ biết LY DỤC, LY ÁC PHÁP là giải thoát ngay liền.”

4/ Trong bức tâm thư thầy gửi tu sinh ‘ Phật pháp tu hành không khó’ thuộc sách ‘ Hướng dẫn nhắc nhỡ tu sinh’  trang 58 có viết :


“ Sự GIẢI THOÁT của Phật pháp rất đơn giản, chỉ cần sống TỰ NHIÊN với tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ; sống mà không có sự tu tập gò bó thân tâm thì mới thấy sự GIẢI THOÁT chân thật của đạo Phật. Còn ngược lại, dụng công tu tập làm gò bó thân tâm để tâm BẤT ĐỘNG, thì làm sao thấy sự GIẢI THOÁT. Phải không thưa quý vị?


Từ lâu mọi người hiểu sai Phật pháp, nên cố gắng tu tập, vì thế mà không có một vị sư, thầy nào làm chủ SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT như Phật.


       Dù sử dụng trong bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi, mà tâm vẫn tự nhiên như người NHÀN DU, VÔ SỰ; đó là người đã BUÔNG XẢ sạch. Vì thế, họ không còn tu tập một pháp môn nào nữa cả... Bởi vậy, người nào hiểu đúng Phật pháp là phải cảm nhận được tâm BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ. Nhờ có cảm nhận được tâm như vậy, nên họ đã trở thành CON TÊ NGƯU MỘT SỪNG luôn luôn sống MỘT MÌNH.”


Trong bài thầy viết “ Sống tự nhiên” chứ không phải vào tu viện để tu tập. Ngoài đời chịu bao đau khổ, chúng ta bỏ hết vào chùa tìm sự giải thoát mà lại ôm thêm một hoặc nhiều cái đau khổ khác như tu tập hết cái này đến cái khác thì làm sao thấy được sự giải thoát của đạo Phật. Do vậy, chúng ta còn có ý nghĩ vào tu viện tu tập giải thoát là chúng ta sai, là chúng ta đang mang thêm sự đau khổ khác cho mình. 


Chỉ khi chúng ta nghĩ rằng: chúng ta vào chùa sống giải thoát thì chúng ta mới tìm thấy sự giải thoát. Sống giải thoát là sống tự nhiên như 1 người bình thường, không ôm pháp nào tu tập cả. Suốt ngày ngồi chơi, đi chơi, nằm chơi, đứng chơi vô sự như người nhàn du. Sống như vậy chính là sự giải thoát của đạo Phật. Dễ như vậy mà không ai chịu sống, ai ai cũng thích tu tập, nên gương mặt của mọi người đều đau khổ, không thấy sự vui vẻ. Do hiểu sai ý nghĩa của sự giải thoát nên mọi người bị hôn trầm thùy miên. Từ đó mọi người phải ôm pháp phá, mất đi sự thanh thản, vô sự giải thoát. Cứ như vậy mà bao năm qua rất ít ai tim được sự giải thoát tại tu viện Chơn Như mặc dù tu theo đạo giải thoát nhưng không thấy được sự giải thoát. 


5/ Khi vào tu viện Ai cũng nghĩ họ phải tu tập để có được sự giải thoát nhưng đâu ngờ sự giải thoát đã nằm ngay trước mắt họ mà họ không chịu theo, không chịu theo lời dạy của thầy Thông Lạc, buông xuống hết. Buông xuống các pháp tu từ các môn phái khác, buông xuống các kiểu ngồi thiền nhiếp tâm, buông xuống các trạng thái an lạc hỷ tưởng, buông xuống tâm bất động,… 


Do vậy trong tâm thư thầy gửi tu sinh bài “Hiểu đúng Phật pháp” sách ‘ Hướng dẫn nhắc nhỡ tu sinh’  trang 40 có viết:


- Đạo Phật là đạo của con người, nên sáng hiểu đạo chiều chứng đạo.

- Đạo Phật là đạo trí tuệ, chứ không phải là đạo con cóc, thế mà các con cứ ngồi như cóc có ích gì?

- Đạo Phật là đạo trí tuệ, vì ai biết dùng Tri Kiến là giải thoát ngay, khỏi cần tu.

- Đạo Phật là đạo như thật, ai hiểu đạo là chứng đạo.

- Đạo Phật là đạo sống một mình, không chơi với ai cả.

- Đạo Phật là đạo vô sự, có đâu đi trồng cây trái, đào mương đào rãnh, làm rào làm giậu! “


Chỉ cần hiểu đúng sự giải thoát của đạo Phật, buông xuống hết chuyện ngoài đời, vào tu viện sống tự nhiên như 1 người bình thường, không ôm pháp nào tu tập cả, suốt ngày ngồi chơi, đi chơi, nằm chơi, đứng chơi.  Đến giờ khất thực thì đi xin cơm ăn, hôm nay cho ăn gì thì ăn cái đó, không ăn những thức ăn để sẵn trên kệ từ ngày hôm trước, lập hạnh khất thực như thời đức Phật. 


Sống tự nhiên bình thường, có niệm rác bẩn đến thì chúng ta quét ra, quét xong thì tiếp tục sống bình thường với tâm thanh thản an lạc vô sự. Ngày qua ngày như vậy là đủ rồi. 


6/ Ai cũng có sự giải thoát riêng của chính mình. Riêng tôi về sự giải thoát của đạo phật là như vậy. Tu viện Chơn Như chính là môi trường Niết Bàn tại thế gian, là một mô hình cần nhân rộng ra khắp thế giới để mọi người tìm thấy sự giải thoát ngay trong hiện tại. 


Kính chúc quý vị sống với sự giải thoát của chính mình. 


Wednesday, 12 August 2020

CHỨNG ĐẠO

YẾU CHỈ TU TẬP - TRƯỞNG LÃO THÍCH THÔNG LẠC 
Album pháp âm đức Trưởng lão khai ngộ trạng thái chứng đạo và cô đọng những phương pháp tu tập.
Khai ngộ trạng thái chứng đạo:
“Bởi vậy cho nên Thầy thấy khi mà hiểu rồi sao mà đạo Phật dễ quá, mà chưa hiểu thì sao lại khó quá. Mà hầu hết Thầy thấy quý thầy chưa hiểu cho nên tu coi khó, đi khất thực thì mặt nào cũng ỉu xìu, đi cứ gầm gầm gầm gầm hổng có thấy cái vẻ hân hoan gì hết, tu thì phải hân hoan vui vẻ chứ tu gì mà coi khổ quá, quá khổ. 
Tại sachúng ta lại dẹp hết vọng tưởng để trở thành cây đá? Tu là làm chủ cái sự đau khổ để hết đau khổ chứ đâu phải tu để làm cho chúng ta trở thành con người ngơ ngơ ngẩn ngẩn, gầm gầm đi không dám nhìn ngó ai. Tu là đem lại cho tâm hân hoan vui vẻ, đoan trang, chánh trực, không liếc xéo, liếc ngang, không nói xấu nói lỗi người, không ly gián người này với người khác, tu là đi đứng khoan thai nhẹ nhàng, thoải mái chứ đâu phải đi cúi đầu, khom lưng bước thấp, bước cao. Tu là tĩnh giác nhưng tĩnh giác đâu có nghĩa là chỉ có biết bước đi, hơi thở mà tĩnh giác là tĩnh giác trong tất cả mọi sự việc xung quanh chúng ta. Nghĩa là đâu có tĩnh giác ở trên bước đi không đâu, mà đây là tĩnh giác những chuyện gì xung quanh chúng ta xảy ra, ta biết rõ thiện ác, biết rõ cái bị sanh, bị già, bị chết biết rõ, sự kiện xảy ra biết được, đó là mới tĩnh. Chứ không phải tĩnh mỗi trong hơi thở, biết hơi thở ra, biết hơi thở vô.

Chứng đạo cũng như người bình thường, nhưng người bình thường thì đang bị sanh già bệnh chết làm dao động, còn người chứng đạo thì không bị sanh già bệnh chết gì hết, bất động. Cho nên người bình thường và người chứng đạo khác nhau ở chỗ tâm bất động trước ác pháp và các cảm thọ. Tu như vậy đâu có nghĩa là khó khăn phải không quý vị. Tu đâu có nghĩa là làm cho chúng ta thay đổi thân tâm khác thường, mà làm cho thay đổi thân tâm khác thường thì đâu gọi là tu đúng. Tu là ngăn diệt những hành động làm khổ mình, khổ người đó là cách thức tu.
Tu mà làm cho mấy con quá cực khổ, đó là cái sai. Cho nên khi mà chứng đạo rồi đức Phật nói, con đường khổ hạnh đức Phật không có chấp nhận, mà con đường lợi dưỡng cũng không có chập nhận, hai cái ngả này Phật không chấp nhận, cho nên nó trung đạo, trung đạo là trung đạo cái chỗ nào? Cho nên trung đạo là cái chỗ không tự làm khổ mình. Tu mà làm khổ mình quá như vậy thì làm sao mà tu cho tới nơi tới chốn được? Cho nên cái tu mà làm khổ mình tức là khổ.

Đâu phải tu hết các tưởng là chứng đạo, đâu phải tĩnh giác là chứng đạo, đâu phải thần thông là chứng đạo, đâu phải ngồi thiền nhiều là chứng đạo, chứng đạo là tâm định tỉnh, nhu nhuyễn dễ sử dụng, ý muốn gì sai bảo thì thân tâm làm theo. Các con có nghe cái câu mà đức Phật đã dạy không? Tâm định tỉnh nhu nhuyễn dễ sử dụng.

Chứ không nhẽ bây giờ con người mình tu rồi mình làm cái gốc cây, cục đá ngồi hàng rào chứ, ngồi bất động đó sáu tháng như cái chú bé người Ấn Độ đó, làm gì đó. Không lẽ tu như vậy sao, các con thấy Thầy bác sạch ba cái thứ quỷ quái này. Con người thì con người chứ tại sao con người tu để rồi bây giờ ngồi đó sáu, bẩy tháng không ăn uống gì hết, không nói gì hết, để làm gốc cây sao?

Chứng đạo là làm chủ sanh già bệnh chết khi tâm ham muốn một điều gì ý thức bảo không được ham muốn điều đó là nó không làm, chứng đạo là vậy

“Cho nên hôm cái bài pháp tuy nó ngắn gọn nhưng nó cô đọng đầy đủ những cái phương pháp.Người nào mà chưa ngộ được cái sự chứng đạo, cái trạng thái chứng đạo rồi đến hỏi Thầy, cần thiết để hiểu biết cái này này chứ đừng có hiểu biết cái ba lăng nhăng mà tập ức chế tâm, hỏi Thầy lăng nhăng ba cái tưởng này tưởng kia, ba cái đó dẹp xuống hết đi, ở đây không có ba cái thứ đó nữa.”

“Đây là người tu chứng đạo ý thức làm chủ sự sống chết, tâm lúc nào cũng thoải mái dễ chịu hoan hỷ vui vẻ. Các con thấy mình đuổi nó rồi thì nó bình an cho mình thì ngồi vui vẻ chơi chứ có làm cái gì đâu, chứ đâu phải quá dụng công dụng sức tu tập mệt nhọc quá cho nên mặt héo xèo.”
(Thư viện Thầy Thông Lạc)

Saturday, 8 August 2020

SỢ Ở TÙ



Đối với 1 người bình thường chưa bao giờ ở tù thì sự sợ hãi đó sẽ đ bám và ám ảnh người đó suốt ngày đêm, từ từ trở thành 1 tâm bệnh, dẫn đến trầm cảm và các triệu chứng tâm thần khác. 

Vậy có cách nào vượt qua được sự sợ hãi đó không ? Dĩ nhiên là có.

1/ Nếu chúng ta hỏi những người thường xuyên phạm tội ở tù thì họ sẽ trả lời “Ở tù nhiều lần rồi quen thôi, không còn sợ nữa“. 

2/ Cách 2 là tìm bác sĩ tâm lý, uống thuốc an thần. 

3/ Cách thứ 3 là ta phải dùng phương pháp của Phật Giáo. Phương pháp của Phật giáo chỉ rõ nguồn gốc của tâm sợ đó từ đâu mà có rồi diệt chúng. 

Phật giáo là một tôn giáo có nền tảng đạo đức nhân bản-nhân quả, dạy con người sống có đạo đức để làm chủ nhân quả của mình. Bởi nhân quả luôn công bằng, không thiên vị ai, dù người đó là Phật, cũng chịu nhân quả chi phối. 

Thời đức Phật còn tại thế có một tên cướp tàn ác thích giết người, giết xong cắt tai và xâu lại đeo trên người. Sau khi gặp được đức Phật, đức Phật độ hóa cho anh ta giúp anh ta hiểu rõ được đâu là thiện ác, đâu là giải thoát. Anh ta bèn muốn quy y Phật. Đức Phật dĩ nhiên là đồng ý nhưng với điều kiện anh ta phải ra đầu thú và chấp nhận sự trừng phạt của pháp luật thời đó. 

Qua câu chuyện trên chúng ta thấy đức Phật là một người có trí tuệ và rất công bằng, không dùng quyền uy của mình xen vào nhân quả của anh cướp đó, vì nếu đức Phật nhúng tay vào thì xã hội sẽ không còn công bằng nữa, dân chúng sẽ căm phẫn và ghét Phật hơn. Nếu chúng ta xen vào nhân quả của ai đó thì chúng ta phải chịu gánh nhân quả thay cho họ. 

Anh cướp sau khi được đức Phật độ hóa thì tìm thấy được con đường giải thoát cho nên sẽ sẵn sàng chấp nhận mọi nhân quả đến với mình khi ra đầu thú dù là bị treo cổ tử hình. 

Có lẽ chúng ta sẽ hỏi nếu như anh cướp bị treo cổ chết thì làm sao theo Đức Phật tu tập giải thoát. Trong Phật giáo có câu “Phật tại tâm” . Khi anh cướp hiểu rõ những hành động cướp giết người của mình xưa kia là ác, là đem đau khổ đến cho người, cho mình. Rồi quyết tâm từ bỏ, quay đầu trở thành một người tốt thì chính ngay đó tâm của anh ta đã giải thoát. Mà đã giải thoát rồi thì dù có ở trong tù, bị đày hay bị treo cổ, tâm anh ta cũng đã giải thoát rồi. Bởi những việc cướp giết kia đều đã là quá khứ, anh cướp đang sống với tâm giải thoát trong hiện tại. 

Sợ tù tội là một tâm bệnh, bởi vì chúng ta không hiểu nhân quả, không chấp nhận nhân quả. Dù cho chúng ta có đi bao nhiêu bác sĩ, uống bao nhiêu thuốc quý hiếm, đi chùa, tụng kinh, làm việc thiện bao nhiêu cũng là những cách trị ngọn hoặc trị không đúng bệnh chứ không phải trị đúng gốc bệnh. 

Trị bệnh tận gốc là phải dùng sự hiểu biết tư duy quán xét vấn đề cho thấu đáo để thấy rõ quả tù tội hôm nay là do tâm tham, sân, si của chúng ta mà ra. Do bị tâm tham chi phối cho nên nói hay làm những việc trái pháp luật nên phải chịu bị pháp luật trừng trị. 

Pháp luật cũng là một phần của nhân quả. Mà đã là nhân quả thì nó sẽ công bằng không thiên vị ai cả, không ai có thể hối lộ để thoát được. Do vậy đừng nghĩ rằng đi chùa, cầu cúng Phật hay thần thánh nào sẽ thoát khỏi tù tội. Đó là chúng ta đang bị tâm tham lừa dối. Nếu chúng ta nghĩ như vậy thì tâm sợ hãi của chúng ta càng mạnh hơn mà thôi. 

Chỉ có đối diện nhân quả, chấp nhận và vượt qua. Sau khi quán xét thấy rõ do nhân tham trước kia mà có quả hôm nay, thì chúng ta tự quyết tâm sửa đổi, không bao giờ lặp lại những hành động tham kia nữa dù bất kỳ hoàn cảnh nào, nghĩa là trong hiện tại chúng ta đang sống với tâm không tham. Mà tâm không tham chính là tâm giải thoát. 

Do vậy khi tâm sợ tù tội khởi lên trong đầu chúng ta hãy dùng phương pháp “Như lý tác ý”. Đây là một phương pháp nhắc tâm,  như cái lý giải thoát nhắc tâm bằng cách tác ý để dẫn tâm vào chỗ giải thoát. 

Ví dụ như chúng ta nhắc “ tâm  tham cút đi, mày là tâm ác, mang đau khổ đến cho người, cho mình, từ đây về sau ta sẽ sống thiện, không tham nữa. Dù cho tù tội gì tôi cũng chấp nhận hết. Tâm sợ hãi cút hết“

Hoặc là nhắc : “Hiện tại tâm ta không có tham, ta đang sống với tâm giải thoát, thì có gì phải sợ, nhân quả nào đến ta cũng chấp nhận hết, tâm sợ hãi cút đi”

Sau Khi nhắc đuổi tâm sợ hãi thì tác ý “ tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự”

Tùy nhân quả và tâm trạng của mình mà chúng ta trạch ra câu tác ý để đuổi những tâm tư tiêu cực. Chỉ có như vậy chúng ta mới vượt qua được nhân quả. 

Nói rõ hơn về tâm sợ hãi Đức Phật đã dạy qua bài“ năm sợ hãi và hận thù”. https://www.nguyenthuychonnhu.net/index.php/bdt/106-5sohai      

Do không sống đúng ngũ giới mà con người thường sống trong sợ hãi và hận thù. Ai sống đúng ngũ giới thì họ đâu còn có sợ hãi, dù nhân quả gì đến họ đều chấp nhận vì họ biết trong hiện tại họ đang gieo nhân thiện thì tương lai họ sẽ gặt quả thiện.
1-  Người thường sát sanh, ăn thịt chúng sanh thì luôn sợ bị giết, bị đánh đập, sợ bị đau bệnh, sợ già, sợ chết
2-  Người thường trộm cắp thì sợ nghèo túng, sợ mất đồ, sợ trộm cắp, sợ tốn tiền hao của, sợ bị lừa gạt tiền tài của cải, sợ tù tội. 
3-  Người thường có những tà hạnh thì sợ người hay vật hại mình, sợ người khác phát hiện việc làm xấu của mình, sợ ở tù. 
4-  Người thường nói dối thì sợ bị lừa dối, sợ bị gạt, luôn sống trong nghi ngờ người khác, không tin tưởng ai, sợ bị phát giác, sợ người khác phát hiện mình nói dối, lừa gạt người khác. 
5-  Người thường uống rượu thì sợ bệnh, sợ người khác hơn mình, chèn ép mình,...

Ngoài ra vì con người không hiểu lý nhân duyên, thường chấp cái thân, tâm là mình, là của mình cho nên chạy theo ngũ dục lạc: sắc, danh, lợi, ăn và ngủ. Hết thích cái này đến cái khác, do vậy luôn sợ mất, sợ thân bị tổn hại, sợ xấu, sợ bị giết, bị già, bị chết,...sợ đủ thứ. Suốt đời làm nô lệ cho cái thân và tâm, bị chúng coi như nô lệ, bị sai bảo, suốt ngày chạy đông chạy tây, tâm  như con khỉ hết suy nghĩ cái này đến suy nghĩ cái khác không bao giờ yên lặng trừ lúc đi ngủ. 

Tóm lại, muốn trị được mọi bệnh tận gốc thì phải hiểu rõ nhân quả, luôn sống thiện nghĩa là luôn hành thập thiện và có tri kiến giải thoát thì tâm bệnh sợ hãi sẽ được diệt trừ tận gốc. 



Friday, 31 July 2020

TỰ TẠI SANH TỬ


(Trích ở sách: NGƯỜI PHẬT TỬ CẦN BIẾT tập 5 trang 64/
http://nguyenthuychonnhu.net/imag…/ebooks/PhatTuCanBiet5.pdf)
LỜI PHẬT DẠY
“Này các Tỳ kheo, Tỳ kheo có đầy đủ tín, đầy đủ giới, đầy đủ văn, đầy đủ thí, đầy đủ trí tuệ. Vị ấy nghĩ: “Mong rằng với sự đoạn trừ các lậu hoặc, với thắng trí Ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát vô lậu!”
“Vị ấy với sự đoạn trừ các lậu hoặc, với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu. Này các Tỳ kheo, các Tỳ kheo này không sinh ra một nơi nào, không sinh ra một chỗ nào”. (Kinh Trung Bộ tập III trang 289 kinh Đại Hành Sanh).
CHÚ GIẢI:
Kinh Đại Hành Sanh là một bài kinh mà đức Phật đã xác định vị trí thế đứng vững chắc giáo pháp của mình là sự an trú trong hiện tại tâm giải thoát, tuệ giải vô lậu. Mục đích giải thoát là phải tu tập đến chỗ tâm vô lậu này thì không còn tái sanh, dù bất cứ nơi đâu. Cho nên đường lối của đạo Phật đã xác định rõ ràng khi đạt đến mục đích này không sanh nơi nào, không có chỗ nào để tái sanh. 
Bài kinh này xác định rõ đạo Phật không có cảnh giới nào để sinh: “Tỳ kheo này không sinh một nơi nào, không sinh ra một chỗ nào?” Như vậy cảnh giới Niết Bàn, Cực Lạc, Phật tánh không phải là chỗ của Phật đến.
Trong kinh Đại Hành Sanh đức Phật đã đưa ra từ cõi người làm vua chúa cho đến 33 cõi Trời, không có cõi nào là chỗ đức Phật đến. Chỗ đức Phật đến chỉ là nơi tâm vô lậu. Chỗ tâm vô lậu là chỗ bất sanh, bất diệt: “Mong rằng với sự đoạn tận các lậu hoặc” Như vậy rõ ràng những gì kinh sách Đại Thừa xây dựng lên mọi cảnh giới đều không đúng nơi đức Phật đến.
Nếu người có trí một chút đọc đoạn kinh này là biết rõ mình tu đến đâu, còn tái sanh hay đã hết tái sanh. Và còn tái sanh về đâu, nơi đâu, đều biết rõ ràng.
Tâm nguyện của người tu sĩ Phật giáo không cầu về cõi Cực Lạc Tây Phương, Niết Bàn, hay kiến tánh thành Phật, hoặc trở về với bản thể Chân Như. Mục đích của người tu sĩ Phật giáo là phải chứng đạt được tâm vô lậu. Vậy tâm vô lậu là gì?
Tâm vô lậu là tâm không còn khổ đau phiền não, lo lắng, sợ hãi, tức giận, than khóc v.v…Tâm vô lậu là tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ. Là tâm không làm khổ mình, khổ người và khổ cả hai, là tâm không còn dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Vì thế, sự tu tập của đạo Phật rất rõ ràng là nhắm vào chỗ đoạn diệt tất cả các lậu hoặc, đem lại sự thanh thản, an lạc và vô sự cho một thân tâm giải thoát.
Đối tượng sự tu tập giải thoát của Phật giáo là tâm lậu hoặc, tâm lậu hoặc sạch là các bạn đã tu tập xong, chứ không phải đợi kiến tánh thành Phật hoặc chứng quả vị này quả vị khác. hoặc sinh về cõi này, cõi kia hoặc nhập vào bản thể vạn hữu. 
Kính thưa các bạn! Tất cả những quả vị từ xưa đến nay trong các kinh sách Đại Thừa đã xây dựng, đó là những cảnh giới không thực tế, mơ hồ, trừu tượng, ảo giác để lừa đảo mọi người.
Còn mục đích của đạo Phật xác định rất rõ ràng và cụ thể. Hôm nay chúng tôi xin xác quyết rõ ràng để các bạn tu tập cho cụ thể không còn hiểu biết một cách mơ hồ, và không còn sống trong những cảm giác ảo tưởng cõi này, cõi kia nữa.
Kính thưa các bạn! Các bạn có biết tâm vô lậu là gì không? Khi nào người ta chê bạn, nói xấu, mạ lị, mạt sát, chửi mắng bạn, mà tâm bạn vẫn thản nhiên không buồn giận hờn, không oán ghét vv… đó là tâm vô lậu.
Khi nào bạn không thương, không ghét một người nào, không sợ hãi, lo lắng sống luôn luôn thanh thản, an ổn và không có một chướng ngại gì trong tâm các bạn, đó là tâm vô lậu. Khi nào tâm các bạn không còn tham muốn một vật gì, dù đó là một món ăn rất ngon, rất thích khẩu của các bạn, nhưng các bạn cũng thản nhiên không thèm, không ham thích muốn ăn. Có thì ăn, không có ăn thì thôi, đó là tâm vô lậu.
Khi nào các bạn thấy sự lười biếng, hôn trầm, thùy miên không còn tấn công các bạn khi các bạn muốn thức dù bất cứ giờ nào, các bạn cũng đều tỉnh thức, đó là tâm vô lậu của các bạn.
Khi nào tất cả mọi cảm thọ đến với bạn mà tâm bạn không lo, không sợ hãi thì đó là tâm vô lậu.
Khi nào tất cả mọi pháp làm động khiến tâm các bạn bất an, nhưng các bạn vẫn thản nhiên, với tâm thanh thản, an lạc và vô sự thì đó là tâm vô lậu.
Khi nào các bạn nhận xét thấy rõ ràng tâm mình được như vậy là các bạn đã tu xong, tức là các bạn đã chứng đạt chân lí, nếu còn chưa được như vậy thì các bạn phải tác ý để tâm các bạn bất động, tức là các bạn còn đang hộ trì chân lí, đó là các bạn còn tu tập. Như vậy chỗ tu tập còn hay đã xong là các bạn đều biết rất rõ ràng.
Tâm vô lậu bất động là chỗ các bạn an trú trong khi các bạn còn sống cũng như lúc các bạn đã chết. Tâm hữu lậu chưa bất động là không phải chỗ các bạn an trú. Mà nếu các bạn an trú nơi đó thì các bạn phải chịu nhiều đau khổ. Muốn không an trú chỗ tâm hữu lậu thì các bạn phải tu tập nhiều nữa.
Như vậy chỗ tu tập để chứng đạt chân lí của Phật giáo không phải khó khăn, chỉ có tu tập đúng pháp thì tâm lậu hoặc sẽ được diệt sạch. Tâm diệt sạch lậu hoặc là chỗ an trú của Phật. Xin các bạn lưu ý những lời dạy này.

TRUNG ĐẠO CỦA ĐẠO PHẬT


(Vấn đạo được ghi chép từ pháp thoại trong giáo án Giới Hành băng số 25 - Trưởng lão Thích Thông Lạc giảng năm 1998 tại Tu viện Chơn Như)

Đáp: Ở đây có ba cái thọ: Thọ lạc, thọ khổ, và cái chỗ thọ không lạc cũng không khổ. Thường thường bên Thiền Đông Độ người ta chấp cái chỗ “không buồn cũng không vui”, không khổ mà cũng không có gì vui, tức là người ta không bị dính mắc vào hai chỗ này. Trạng thái chỗ thọ bất lạc bất khổ này, người ta nghĩ là TRUNG ĐẠO, đường lối của Đạo Phật. Nhưng sự thật ở đây, thọ là vô thường, dù là bất lạc bất thọ khổ chỉ trong một giây lát nào đó, rồi nó sẽ có thọ lạc hoặc thọ khổ, nó là bản chất vô thường rồi. Dù là thọ lạc, thọ khổ cũng bản chất vô thường, nó đâu phải thường hằng, vậy mà chúng ta chấp nó là TRUNG ĐẠO, đường lối của Đạo Phật thì không phải. 

Cho nên ở đây Thầy đáp: “Theo Đạo Phật có ba trạng thái: Thọ lạc, thọ khổ và thọ bất lạc bất khổ. Ba Thọ này Đức Phật không chấp nhận thọ nào cả, luôn luôn tu tập tìm mọi cách để xả ly chúng.” Xả ly ba cái thọ này, bởi vì thọ lạc, thọ khổ, thọ bất lạc bất khổ này không phải là TRUNG ĐẠO, không phải là cứu cánh. Nhưng Thiền Tông có thể chấp nhận nó là trạng thái “chẳng niệm thiện, niệm ác”, do cái chỗ nó không thiện không ác, chẳng buồn cũng chẳng vui. Thiện là vui, ác là khổ, mà đây nó không khổ cũng không vui, do đó nó là chỗ bất lạc, bất khổ của Phật đã chỉ. Chỗ này Đức Phật bảo đây là trạng thái còn vô thường, bởi vì nó là thọ vô thường, dù là thọ bất lạc bất khổ cũng vẫn vô thường, cho nên nó chưa phải là chỗ cứu cánh của chúng ta. Trong Kinh Đức Phật cũng xác định để chúng ta thấy rõ được con đường tu tập của chúng ta. Thọ bất lạc bất khổ, trạng thái này tương ưng với trạng thái “chẳng niệm thiện, niệm ác” của Thiền Đông Độ. Trạng thái này xét ra chỗ chẳng niệm thiện niệm ác, tức là niệm không vui, không buồn, thì nơi này coi như "bản lai diện mục hiện tiền". Nhưng chỗ này không phải là chỗ mà Đức Phật chấp nhận, vì nó còn cái thọ, thọ cái chỗ mà không vui, không buồn. Còn niệm không thiện, không ác tức là nó còn ở trong cái chỗ vô thường. Thí dụ bây giờ nghe danh từ “chẳng niệm thiện niệm ác”, thì chúng ta ngỡ tưởng là trong đầu của chúng ta không có niệm thiện niệm ác thì phải có một trạng thái nào đó, trạng thái đó là “bất khổ bất lạc thọ”. Nghĩa là không có khổ cũng không có lạc, cho nên không có niệm thiện niệm ác, tức là không vui cũng không buồn. Mà không vui không buồn thì nó phải có trạng thái thọ, thọ cái bất khổ bất lạc đó chứ? Chứ đâu phải nó không có niệm thiện niệm ác thì nó ở không ngơ, không có cái gì! Nó phải còn ở trong cái thọ đó. Cho nên khi nói “chẳng niệm thiện niệm ác” thì chúng ta phải suy nghĩ đến một trạng thái trong cái “chẳng niệm thiện niệm ác” này, là trạng thái “chẳng thọ khổ mà chẳng thọ lạc”. Như vậy chúng ta mới thấy rõ được chỗ mà chấp của bên Thiền Đông Độ. Chỗ đó là chỗ mà Phật đã thấy thọ là vô thường, dù là bất lạc bất thọ khổ cũng là vô thường, bởi vì thọ Phật đã nói vô thường mà. 

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, ngũ uẩn này là vô thường. Rồi Đức Phật xác định bốn chỗ chúng ta đang tu tập cho nó gọt sạch được, để đi đến giải thoát. Thì Thân, Thọ, Tâm, Pháp Đức Phật cũng xác định bốn chỗ này vô thường, khổ, không, vô ngã. Bốn chỗ vô thường, khổ, không, vô ngã rõ ràng. Đức Phật cũng xác định ở chỗ Thọ này là Vô thường, mà nó là Không, nó cũng Vô ngã, cái Thọ này cũng không có ngã nữa. Có đủ duyên hợp lại nó mới thành mụn ghẻ, nó mới thành đau, thành đớn. Ví dụ tay chúng ta không đứt thì làm sao chúng ta có đau đớn được. Do nhân duyên chúng ta chặt trúc, hoặc chặt cây, hay làm gì đó, hoặc nhổ cỏ, nó mới đứt tay chúng ta. Cái duyên hợp lại làm cho hoàn cảnh đó xảy ra vết thương, từ đó chúng ta thấy ngón tay mình đau, thọ khổ đó mới xảy ra. Hoặc là chúng ta ăn miếng ăn đó nghe ngon, ngọt ở trong miệng, đó là do duyên hợp lại. Khi đó cảm xúc của chúng ta tiếp xúc với cái pháp trần sinh ra thọ lạc, ăn thấy ngon, vì vậy chúng ta mới sanh ra ái dục, cái ưa thích đó làm chúng ta đau khổ. Mình ưa thích nó thì mình phải tìm kiếm nó, như vậy mình sẽ gặp nhiều đau khổ trên sự yêu thích. Đó là nguyên nhân đau khổ, là nơi tập hợp tất cả sự đau khổ đến, vì ưa thích tức là nó phải tập hợp. Nó không thể được gọi là TRUNG ĐẠO của Đạo Phật. Nó chỉ là một trạng thái tâm bình thường không khổ không lạc mà thôi. Như bây giờ chúng ta không có khổ không có lạc, tức là trạng thái tâm bình thường. Trạng thái tâm bình thường này thuộc về ý thức không niệm thiện, niệm ác mà thôi. 

TRUNG ĐẠO của Đạo Phật không phải là pháp môn nằm giữa pháp môn đối đãi. Nghĩa là đừng nghĩ rằng TRUNG ĐẠO nằm giữa các pháp môn đối đãi. Pháp môn đối đãi bên đây khổ, bên đây lạc, thì TRUNG ĐẠO nằm giữa cái không khổ không lạc này mà nghĩ rằng đó là TRUNG ĐẠO của Đạo Phật. Không phải đâu! Bởi vì chúng ta phải hiểu rõ ràng, khi chúng ta học Tứ Chánh Cần chúng ta mới hiểu rõ rằng TRUNG ĐẠO của Phật không nằm giữa pháp đối đãi, hay pháp nhị nguyên đâu. Nó không phải là cái hiểu quá tầm thường như vậy. 

TRUNG ĐẠO của Đạo Phật là một pháp môn vượt ra khỏi nhân quả. Đường lối của Đạo Phật tu tập để giúp chúng ta vượt ra nhân quả, vì con người, vì muôn vật từ nhân quả mà sanh ra, chết đi về nhân quả. Cho nên chúng ta muốn ra khỏi sự sống chết, làm chủ sự sống chết, chấm dứt tái sanh luân hồi, thì chúng ta phải vượt ra khỏi nhân quả. Nếu chúng ta ở trong vòng nhân quả thì chúng ta sẽ bị nhân quả chi phối mà tái sinh luân hồi, và thọ biết bao nhiêu khổ và vui ở trong cái nhân quả. 

Cho nên mục đích TRUNG ĐẠO của Đạo Phật là làm sao vượt ra khỏi nhân quả, nhưng lấy thiện pháp làm nền tảng, làm điểm tựa, làm hòn đảo, làm ngọn đèn. Lấy Thiện pháp làm, cho nên ở kia thì nó phải bỏ thiện và bỏ ác, còn ở đây không bỏ thiện mà lấy thiện làm nền tảng để vượt ra nhân quả. Do nhân quả mới tạo ra thiện ác, các thầy phải hiểu. Nhưng nó không bỏ cái đối đãi của pháp ác, tức là nó lấy cái thiện để làm điểm tựa, chứ nó không phải chấp nhận cái thiện. Nó làm điểm tựa để vượt qua, vì vậy Đạo Phật mới lấy Giới luật làm đầu, bởi vì Giới luật của Phật là thiện pháp. Quý thầy đã hiểu chưa? Từ thiện pháp đó, những người tu sĩ chúng ta mới ly dục, ly ác pháp, mới có được Sơ Thiền. Còn nếu chúng ta không ly dục ly ác pháp thì chúng ta sẽ ở trong ác pháp, thì chúng ta đâu làm sao mà nhập Sơ Thiền được!
Cho nên phải hiểu TRUNG ĐẠO của Đạo Phật lấy Thiện pháp làm nền tảng, làm điểm tựa, làm hòn đảo, làm ngọn đèn sáng để soi cho mình đi trên con đường đó để vượt qua nhân quả. Vì nhân quả là nguyên nhân để chúng ta tái sinh luân hồi, mãi mãi nhiều kiếp, nhiều đời chúng ta ở trong lục đạo, ở trong sự đau khổ. Vì thế Đức Phật không chấp nhận thọ bất lạc bất khổ là cứu cánh, là Đạo mình. Nghĩa là Đức Phật không chấp nhận trạng thái đó là cứu cánh đâu. Cứu cánh của Đạo Phật là đoạn dứt ác pháp, tăng trưởng thiện pháp, tức là đoạn dục. Nghĩa là mình đoạn dục thì ác pháp sẽ không còn, mà khi đoạn dục tức là chúng ta còn ở trong Thiện pháp. Cho nên trong Sơ thiền Đức Phật có dạy rất kỹ, Thầy nhắc lại cho quý thầy thấy. Đức Phật nói ly dục ly ác pháp nhập Sơ thiền. Nhập Sơ thiền do ly dục sanh hỷ lạc có tầm có tứ. Có tầm là có sự suy nghĩ, mà suy nghĩ thiện thì Đức Phật đâu có cấm. Như bây giờ thấy một người đang đau khổ thì chúng ta giúp đỡ họ bằng cách này khác. Thấy người đang đói chúng ta đem cơm cho ăn, thì đâu phải niệm đó Đức Phật bảo chúng ta đừng có niệm. Cho nên chúng ta vẫn làm điều thiện được ở trong Tứ Vô Lượng, tức là tâm Từ, Bi, Hỉ, Xả của chúng ta vẫn tu tập được điều đó. Điều đó vẫn là thiện chứ đâu phải là ác, cho nên Đức Phật vẫn lấy cái thiện để từ cái thiện đó giúp cho chúng ta vượt qua pháp ác. Người ta chửi mình mà mình thương người, thì làm sao mình giận người ta được? Đó không phải là cách đối trị tâm Từ, tâm Bi của mình đối với tâm Sân của mình sao? Cho nên Đức Phật đứng trên nền tảng của Thiện để vượt qua nhân quả.

Khi vượt qua được nhân quả thì không còn thiện và ác. Bây giờ chúng ta đang ở trong ác pháp mà chúng ta không chấp nhận thiện pháp thì chúng ta lấy cái gì đối trị nó được? Cho nên Đạo Phật dạy chúng ta rất rõ, biết đứng ở chỗ đứng của chúng ta rất vững, từ đó chúng ta hoàn toàn được hạnh phúc của tâm hồn, vì Thiện không làm mình khổ, mà không làm người khác khổ, mục đích diệt Ác. Ở đây Thầy xin đọc lại chỗ này: "Cứu cánh của Đạo Phật là đoạn dứt ác pháp, tăng trưởng thiện pháp, tức là đoạn dục." Nói đoạn dứt ác pháp mà tăng trưởng thiện pháp, thì mình biết là đoạn dục. Dục là lòng ham muốn, đó là Tập Đế, do lòng ham muốn của mình mà nó tập bao nhiêu sự khổ đến cho mình. Đó là trong Tứ Diệu Đế Đức Phật đã chỉ định cho thấy nguyên nhân sanh ra khổ của con người là dục. Bây giờ chúng ta đoạn dứt ác mà tăng trưởng thiện, tức là đoạn dứt dục. Đoạn dục tức là Diệt Đế, còn gọi là Niết Bàn. Diệt Đế người ta có thể nói nó là Niết Bàn được, bởi vì tâm ham muốn chúng ta đã diệt được rồi, đoạn nó được rồi, thì trạng thái ở trong cái tâm đó là Niết Bàn, chứ không phải đi tìm cảnh giới nào mà có Niết Bàn. Chính trạng thái tâm của chúng ta đã hết ham muốn thì đó là Niết Bàn. Mà hết ham muốn thì không còn ác pháp, cho nên còn toàn là thiện pháp. Cho nên có tầm có tứ chứ đâu phải hết, tức là có sự suy tư ở trong pháp Thiện chứ không phải là còn suy tư ở trong pháp Ác. Không còn những thủ đoạn gian ác, không còn những ý nghĩ hung ác, không còn những lời nói dữ tợn nữa. Như vậy chúng ta thấy rất rõ con đường của Đạo Phật chỉ chúng ta cách thức đứng trên chỗ nào để chúng ta chuẩn bị cho cuộc chiến đấu với nội tâm của chúng ta. 

Muốn diệt Ác pháp chỉ có Thiện pháp mới diệt được mà thôi. Các thầy thấy rất rõ là trong Thập Thiện Đức Phật dạy rất rõ, có Mười Điều Lành mà Mười điều lành đó thì mình nhắm vào ba điều lành của ý mình nói, tức là không tham, không sân, không si. Người nào có tham, có sân, có si, thì người đó ở trong ác pháp chứ gì, mà không tham, không sân, không si thì thiện pháp chứ gì, đó rất rõ ràng. Vì vậy bây giờ chúng ta muốn tăng trưởng thiện pháp, tức là kéo dài thời gian không tham, không sân, không si. Mà không tham, sân, si tức là đoạn dứt ác pháp rồi, thì đâu có gì mà không giải thoát tâm hồn chúng ta? Cho nên thấy rất rõ. Nếu chúng ta không đứng trên thiện pháp không tham, không sân, không si thì chúng ta đứng chỗ nào? Đứng chỗ chẳng niệm thiện, niệm ác tức là chúng ta đã hủy luôn nền tảng thiện pháp rồi, thì làm sao chúng ta gọi là giải thoát cho được? Dù chúng ta có tu một ngàn kiếp đi nữa cái chỗ “chẳng niệm thiện, niệm ác” thì chúng ta cũng chẳng giải thoát được khỏi “chẳng niệm thiện, niệm ác”. Bởi vì chúng ta đã xóa bỏ nó đi, xóa bỏ nó đi thì chúng ta đứng trên nền tảng nào để chúng ta biết được rằng tâm chúng ta giải thoát? Vì giải thoát của Đạo Phật nhắm vào tam độc tham, sân, si. Mà tham, sân, si là ác pháp, cho nên chúng ta mới dựa vào cái không tham, sân, si này là cái pháp thiện để chúng ta diệt ác pháp mới được. Còn bây giờ tâm chúng ta có tham mà chúng ta không biết, chúng ta nói không có tham, tức là sai. Cho nên người phá giới, ăn uống phi thời, ngủ nghỉ phi thời, vật chất đầy đủ mà họ nói rằng họ không dính mắc, sự thật ra thì người đó chưa phải là người trí tuệ của Đạo Phật, họ không thấy. 

Muốn diệt ác pháp, chỉ có thiện pháp mới diệt được mà thôi. Nhưng diệt được ác pháp thì cũng không dính mắc trong thiện pháp, nhưng lại sống trong thiện pháp. Cho nên bất thọ lạc, bất thọ khổ là một trạng thái chẳng thiện, chẳng ác. Ngược lại TRUNG ĐẠO của Đạo Phật sống trong thiện pháp mà không bị dính mắc thiện pháp. Cái hay là chúng ta lấy nó làm nền tảng để vượt qua nhân quả, cho nên trong hành động nhân quả chúng ta sẽ làm chủ được hoàn toàn, chúng ta không mắc vào thiện pháp. Còn nếu chúng ta mắc vào thiện pháp, chúng ta cứ lo đi từ thiện, cứu trợ hoặc làm chuyện này, chuyện kia, rồi kêu gọi phật tử đóng tiền cất Chùa, xây Tháp gọi là thiện pháp, thì cái đó không thiện gì nữa hết, mà đời chúng ta không giải thoát chỗ nào hết.
Note: Phần trên được bổ sung thêm vào bài đăng ngày 19/04/2020
—————

Hỏi: Thưa thầy! Trung đạo của đạo Phật là gì? Nó có khác gì so với đạo đức nhân quả hay không?

Thật sự ra thì hỏi về trung đạo thì hầu như người ta hiểu một cách mơ hồ lắm, cái trung đạo của đạo Phật mà so sánh với đạo đức nhân quả thì cái đạo đức nhân quả là cái trung đạo của đạo Phật. Nó từ cái nền tảng đó mà đi lên, thì nó trở về với cái đời sống mà thành tựu của đạo pháp, rồi thì cái đạo đức nhân quả đó là trung đạo. Nó toàn thiện chứ không phải là nửa thiện nửa ác, gọi là trung đạo. Nó nửa bên đây nửa bên kia thì nó là trung đạo. Không phải! Nó toàn thiện. Mà thiện của Phật nó không phải là chuyện cái kiểu mà làm mình khổ mà người khác vui không phải vậy, cho nên nó là cái đạo đức trung đạo, lấy cái nhân quả mà làm cái nền tảng của nó. Vì vậy mà coi như trung đạo là đạo đức nhân quả. 
Cho nên đạo Phật - cái đạo đức nhân quả là cái đạo đức của đạo Phật, nền đạo đức của đạo Phật ở chỗ đạo đức nhân quả.

Sunday, 12 July 2020

TRỊ BỆNH TẬN GỐC

Bệnh từ đâu mà có ? Chỉ khi hiểu rõ căn nguyên thì mới trị đươc tận gốc. Đi bác sĩ hay uống thuốc chỉ là trị ngọn. Nếu không trị bệnh tận gốc, mãi mãi con người luôn sống trong lo lắng, sợ hãi và đau khổ.

Mời các bạn đọc quyển sách HÀNH THẬP THIỆN để hiểu rõ cách trị mọi bệnh tật tận gốc tại đây. 

1/ Tâm chúng sanh vốn không dính mắc, không phiền não, chỉ vì vô minh lầm chấp cái Ngã (Ta) và Ngã Sở (của Ta) nên có dính mắc, có phiền não.

Tâm chúng sanh thường sống trong Thường-Lạc-Ngã-Tịnh, nhưng vì tham, sân, si ở bên ngoài khởi dậy khiến cho tâm mất bình thường, ví nó đang duyên theo sáu trần.

Muốn làm chủ được già bệnh thì phải giữ tâm an vui đừng để phiền não xen vào. Nhờ cố giữ gìn, tức là hành THẬP THIỆN thì thân dần dần sẽ ít bệnh tật. Kinh Tăng Nhất A-Hàm dạy: Thoát tai nạn hữu vi, nghĩa là tư tưởng không còn bị ảnh hưởng vật chất thế gian, đời sống không còn nô lệ cho vật chất.

2/  Hành THẬP THIỆN thân, tâm của chúng ta phải hoàn toàn hòa hợp với mọi đối tượng, nghĩa là chúng ta phải tùy thuận với tất cả chúng sanh. Phải hiểu chúng sanh tức là thân và tâm của mình, thân và tâm của mình tức là chúng sanh.

Tu THẬP THIỆN chúng ta phải ý thức sự dung thông với vạn hữu là một việc làm tối quan trọng của sự tu quán. Nếu hành giả không dung thông được thì sự thể hiện THẬP THIỆN chỉ có kết quả năm phần mười chớ không thể đạt được kết quả theo ý muốn.

Muốn giải thoát tâm hồn đau khổ phiền lụy, hành giả phải nhận thức rõ ràng THẬP THIỆN và DUNG THÔNG là một, nghĩa là phải tùy thuận lại đối tượng để giải quyết tâm lý mình một cách rất tế nhị và phi thường. Đó là một pháp môn mầu nhiệm và cần thiết cho những ai muốn hưởng được hạnh phúc chơn thật trong cõi thế gian này.


THẬP THIỆN là pháp môn dung thông vạn hữu với tâm mình. Nhờ pháp môn này mà vạn vật thiên nhiên trong vũ trụ mới tùy thuận lẫn nhau, mới chung sống với nhau, mới hoàn mãn sự giải thoát nơi tâm hồn mình. Thể hiện như vậy, vạn hữu không còn là chướng ngại, nó là tâm mình, tâm mình là vạn hữu; THẬP THIỆN là tâm mình, tâm mình là THẬP THIỆN.

Thursday, 23 April 2015

THIỆN VÀ ÁC

Như thế nào gọi là thiện, như thế nào gọi là ác. Thiện ác phân biệt như thế nào? 

Thiện ác luôn có ranh giới và tiêu chuẩn của chúng. Chúng ta không thể nào nói rằng không thể phân biệt được thiện ác, hoặc nói rằng trong cuộc sống này không có thiện và ác rõ ràng mà chỉ có tương đối thôi.

Nếu không có ranh giới hoặc tiêu chuẩn thì trong xã hội không có những danh từ ma quỷ, thiên đàng, thần thánh, xấu ác, địa ngục, đạo đức, chư thiên... Thiên đàng, chư thiên, thần thánh là tượng trưng cho những điều thiện hoặc người thiện, còn những danh từ như ma quỷ, địa ngục, ngạ quỷ là tượng trưng cho những việc hoặc người ác.

Vậy tiêu chuẩn của chúng là gì? và chúng thường thể hiện ở đâu ?

Thiện ác thường thể hiện ở 3 nơi: suy nghĩ, lời nói và việc làm.

Tiêu chuẩn của chúng là phàm là sự việc gì nếu như những suy nghĩ, lời nói và việc làm có đem đau khổ đến cho chính mình, người khác hoặc các loài vật chúng sinh (có sự sống khác) thì được xem là ác, ngược lại thỏa mãn đủ 3 điều kiện (1- không làm khổ mình; 2- không làm khổ người;3- không làm khổ các loài vật có sự sống khác) thì được gọi là thiện.

Nếu không thỏa mãn được 3 điều kiện trên, chỉ thỏa mãn 1 hoặc 2 thôi thì vẫn chưa được gọi là thiện, vẫn còn gọi là ác. Chính do chổ này mà tại sao bao người làm việc thiện vẫn thấy đau khổ, vẫn thấy chưa được hoàn hảo, vẫn thấy hối hận, dày vò, ăn năn, lo lắng, sợ hãi, phiền muộn hoặc phải lãnh những hậu quả xấu, vẫn phải bị quả báo, tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn,...

Ví dụ: - Có người sống rất tốt, giúp đỡ người. Tại sao vẫn bị bệnh, tai nạn, bởi vì họ vẫn còn giết hại và ăn thịt các loài vật khác.

- Có người suốt đời hy sinh vì con cái gia đình làm đủ mọi nghề, tìm đủ mọi cách để kiếm tiền nuôi con, lo cho người thân nhưng tại sao gia đình hoặc chính bản thận họ vẫn bất an, bệnh tật, tai nạn, bởi vì những đồng tiền họ làm ra bằng những nghề ác hoặc họ luôn có những hành động ác như buôn bán thịt động vật sống hoặc chết (mở quán ăn), giết hại động vật để ăn thịt hoặc để buôn bán.

- Có người giàu có, nhưng tại sao con cái hư hỏng, phá tán tài sản, bởi vì con cái không được dạy và học đạo đức nhân bản nhân quả và những đồng tiền họ kiếm được là do tham lam, tham nhũng, hối lộ, lường gạt, dối trên lừa dưới,...

- Có những người sinh ra đã nghèo, lại gặp thiên tai lũ lụt, sóng thần,... bởi vì họ đã từng hoặc đang sống bằng những nghề ác như đánh bắt cá, săn bắn, ...

- Có người biết cướp tiền của người giàu chia cho người nghèo mà vẫn bị bắt, bị giam, bị đánh, bị giết, đó là vì cướp của là một hành động ác, tuy giúp người nhưng lại làm khổ mình, biến mình trở thành kẻ phạm tội, làm trái pháp luật, bị săn đuổi,...


-v.v...

Cuộc đời là một trường đời trải nghiệm, nếu không nhận ra được những tiêu chuẩn thiện này thì sẽ thấy cuộc đời bất công.

Đức Phật đã chỉ rõ cho con người thấy những điều kiện của thiện ác nằm ở ngũ giới, mười điều lành và mười điều ác. Tư duy rõ về mười điều lành và mười điều ác thì chúng ta sẽ có một khái niệm chắc chắn về thiện và ác. 

Người biết gieo nhân thiện thì chắc chắn sẽ gặt quả thiện, gieo nhân ác thì sẽ gặt quả ác. Hạnh phúc của con người là quả, muốn gặt quả hạnh phúc thì chúng ta phải biết gieo nhân thiện biết đem niềm vui và hạnh phúc đến cho người và các loài vật khác. Người biết sống thiện tâm hồn luôn thanh thản, an lạc không có lo lắng sợ hãi hay phiền muộn gì cả.

Tài, lộc, phú quý, sống lâu, gia đình bình an hạnh phúc, sức khỏe dồi dào không thể tự nhiên có, không thể cầu thần thánh mà có được. Chính mỗi người chúng ta phải biết gieo nhân thiện. Ngược lại, ai gieo nhân ác thì quả hạnh phúc không bao giờ có và không thể cầu thần thánh nào ban cho được.

Dù cho có đi chùa, nhà thờ, tụng kinh, lần triệu hạt chuổi, cúng dường người tu hành, mà không biết sống thiện thì cuộc đời vẫn phải chịu đau khổ, luôn sống trong những ngày lo lắng, sợ hãi không hưỡng được hạnh phúc chân thật.

Người biết sống thiện là người biết sống thương yêu, để hiểu rõ hơn về cách sống thiện, mời các bạn đọc những bài sau:

- Sống mười điều lành.
- Sống thương yêu. 

Monday, 10 November 2014

PHÂN BIỆT TỐT XẤU

Nếu như chúng ta từ nhỏ không được dạy như thế nào là tốt xấu thì khi ra đời chúng ta rất dễ bị nhiễm những tính xấu của đời rất nhanh, bởi vì những dục lạc thế gian như ăn uống, sắc dục, danh, lợi có sức hút cám dỗ rất mạnh, khiến cho tâm trí con người điên đảo trở nên mù quáng, không còn phân biệt tốt xấu nữa, lúc đó chúng ta trở thành nô lệ cho chúng, tìm đủ mọi cách để có được những thứ mình đang muốn, bất chấp tất cả, hại mình, hại người, mất hết nhân tính, trở nên ích kỷ, hẹp hòi, coi thường mạng sống của mình và người khác,...

Ông bà, cha mẹ hoặc người lớn thường dạy "không hại người là tốt, hại người là xấu". Đó là một câu nói chung chung, chưa thể lột tả hết và chưa đi sâu vào chi tiết. Do vậy, khi ra đời, gặp người gặp việc, đối diện với thực tế trong đời sống, chúng ta cần nhạy bén nhận ra đâu là tốt, đâu là xấu ngay.

Vậy tốt, xấu nằm ở đâu ? Tốt xấu được đức Phật chia ra làm 5 giới, 10 điều lành và 10 điều ác:


Mười điều lành và mười điều ác này thường thể hiện ở 3 nơi: thân ( tay, chân), khẩu (miệng), ý.

Ngũ giới và Mười điều lành có nhiều điểm chung gộp lại thành 11 điều gồm:

(1)   Thân có ba việc làm lành:
-          Không sát sanh, không dùng gậy, gộc, cây, dao, búa, súng hay bất kỳ vật nào làm hại người và vật.
-          Không trộm cắp, không lấy của không cho.
-          Không tà dâm

(2)     Khẩu có năm việc làm lành:
-          Không nói dối
-          Không nói thêu dệt
-          Không nói lật lọng (nói lưỡi đôi chiều)
-          Không nói lời hung ác

-          Không nên uống rượu bia, hút thuốc lá, uống coffee, chơi ma túy,...

(3)     Ý có ba việc làm lành:
-          Không tham lam
-          Không sân hận
-          Không si mê

Ngược lại với 11 điều lành là 11 điều ác: 1- Sát sanh, ăn thịt người và vật, dùng gậy, cây, dao, búa hay bất kỳ vật nào làm hại người và vật; 2: Tham lam trộm cắp, lấy của không cho; 3: Tà dâm, hãm hiếp người khác, phá hoại trinh tiết người khác, phá hoại hạnh phúc gia đình người khác, tự thủ dâm; 4: Nói dối, lường gạt người; 5: Nói thêu dệt thêm bới; chuyện không nói có chuyện có nói không; 6: Nói lật lọng; nói 2 chiều trắng thành đen, đen thành trắng; trước mặt nói như thế này, sau lưng nói thế khác, gây chia rẽ, ly gián; 7: Nói những lời hung ác, dữ tợn, hung dữ, lớn tiếng, chửi thề, xưng hô phách lối, nói oan ức cho người khác,...; 8: uống rượu bia, hút thuốc lá, ma túy, uống các chất kích thích như coffee,...; 9; tham lam; 10: sân giận; 11: Si mê, mê mờ không hiểu rõ đâu là tốt xấu,...

Để hiểu rõ thêm về 10 điều lành, chúng ta nên đọc quyển sách "Sống mười điều lành" tại đây.

Ngoài hiểu rõ mười điều lành trên, chúng ta cũng nghiên cứu thêm "Những lời nên và không nên nói" tại đây.

Tóm tắt ngắn gọn lại của việc sống tốt là sống thiện, sống thiện được định nghĩa là sống không làm khổ mình, khổ người và khổ các loài vật khác. Ngược lại, sống xấu là sống ác, nghĩa là sống mang đau khổ đến cho mình, cho người và cho các loài vật khác. 

Chỉ cần trước khi làm hay nói điều gì, chúng ta tư duy suy nghĩ xem lời nói và việc làm đó có đem đau khổ đến cho mình, cho người và cho các loài vạn vật khác hay không. Nếu không thì chúng ta mới nói và làm,  còn nếu có làm khổ ai thì dứt khoát không nói và làm.

Trong 11 điều thiện trên, mỗi một điều là một đức hạnh của con người. Ví dụ: không sát sanh nói về đức hiếu sinh, không tham lam trộm cắp nói về đức buông xả, không tà dâm nói về đức gia đình chung thủy, không nói dối nói về đức thành thật, không uống rượu bia nói về đức minh mẫn,...

Người sống thiện là những người tốt, người sống ác là những người xấu. Tiêu chuẩn tốt xấu đã được phân tích rõ ràng. Ngoài ra mỗi một hành động tốt đều mang theo những đức hạnh tốt như đã nói ở trên và còn vô số những đức hạnh cần biết như đức tha thứ, đức khiêm tốn, đức bố thí, đức chia sẻ, đức cung kính và tôn trọng, đức trân trọng, đức nhìn lỗi mình, đức giác ngộ, đức không ích kỷ, đức vệ sinh, đức cẩn thận an toàn giao thông, đức tĩnh giác, đức nhường nhịn, đức quan tâm, đức trách nhiệm, đức nghề nghiệp, ...

Tóm lại, tốt xấu đều có tiêu chuẩn rõ ràng, không thể hiểu chung chung hoặc sơ sài được. Có hiểu rõ thì chúng ta mới không phạm phải những tính xấu, có hiểu rõ thì chúng ta mới rèn luyện mình thành người tốt, có hiểu rõ thì mới phân biệt được tốt xấu trong cuộc sống, phân biệt được người tốt và người xấu. Cha mẹ và người lớn cần dạy rõ cho trẻ em những tiêu chuẩn phân biệt tốt xấu để giúp đường đời của các em sau này không phải vấp ngã vào đường xấu.

Friday, 1 August 2014

CHỚ CÓ TIN

Trong trang blog này có nhiều bài không ghi rõ nguồn gốc, đó là những bài do tự tác giả blog viết ra theo cái hiểu của mình. Vì tác giả blog là người đang nghiên cứu học Phật, nên chắc chắn không tránh khỏi sai lầm. Kính mong quý đạo hữu góp ý xây dựng thêm.

Chỉ cần quý đọc giả khi nghiên cứu kinh tạng, kinh điển, sách kinh,... hãy nhớ lời Phật dạy:

“Này các Kàlàmà!

1- Chớ có tin vì nghe truyền thuyết,
2- Chớ có tin vì nghe truyền thống,
3- Chớ có tin vì nghe người ta đồn,
4- Chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng,
5- Chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình,
6- Chớ có tin vì đúng theo một lập trường,
7- Chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dự kiện,
8- Chớ có tin vì phù hợp với định kiến của mình,
9- Chớ có tin vì nơi phát xuất có uy quyền,
10- Chớ có tin vì bậc Sa Môn là Ðạo Sư của mình, v.v…

Nhưng này các Kàlàmà! Khi nào, tự mình biết rõ như sau: Các pháp này bất thiện, các pháp này là có tội lỗi, các pháp này bị người có trí hiểu biết chỉ trích, các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau. Thời này, Kàlàmà hãy từ bỏ chúng, không nên tin theo”.


Những lời dạy trên đây của đức Phật, là những lời nhắc nhở và cảnh cáo đệ tử của mình, đừng quá vội tin mà bị lừa đảo những pháp môn ngoại đạo giả mạo của Phật giáo.

Rút ra từ những lời dạy này, khi bước chân vào tôn giáo nào thì chúng ta cần phải dè dặt cẩn thận nhiều hơn, không nên tin mù quáng mà phải chọn đúng chánh pháp dạy đạo đức làm Người, làm Thánh. Vì chính đạo đức làm Người, làm Thánh là sẽ không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả những loài chúng sanh.

(Trưởng lão Thích Thông Lạc, trích ĐVXP.1, TG.2011, tr.51-52)

Wednesday, 23 July 2014

LÒNG YÊU THƯƠNG CHÂN THẬT

Dưới đây là những lời nhắn nhủ quan trọng của thầy Thích Thông Lạc rút ra từ "Giáo án rèn nhân cách Đức Hiếu Sinh"
  1. Đức hiếu sinh là lòng yêu thương tất cả sự sống của muôn loài trên hành tinh này (đó là lòng yêu thương nhiều hướng ) thì chỉ có xuất gia, sống đời sống 3 y một bát, cắt ái ly gia, lìa xa ái dục thì mới thực hiện được lòng yêu thương rộng lớn đó.
  2. Hằng ngày phải sống với lòng yêu thương chân thật mà mình đã học được trong những bài học đạo đức có nhiều ấn tượng, có nhiều cảm xúc.
  3. Khi chúng ta tư duy suy nghĩ một việc thiện đem lại sự an vui cho mình, cho người, đó là lòng yêu thương thuộc về ý hành. Một người có ý thức tư duy các điều thiện là người có đạo đức hiếu sinh. Ai muốn tu tập lòng thương yêu rộng lớn thì nên tư duy suy nghĩ những điều lành tránh xa và từ bỏ tư duy suy nghĩ những điều ác. Càng tư duy suy nghĩ những điều lành là càng làm cho lòng yêu thương rộng lớn bao la như trời, như biển, như không gian vũ trụ. Người có lòng thương yêu rộng lớn như vậy là người đã làm chủ sinh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi sinh tử; người ấy đã thoát ra khỏi vòng quy luật nhân quả của vũ trụ.  
  4.  Về đạo đức thương yêu ý hành, trước khi muốn làm một điều gì và muốn nói một điều gì thì phải tư duy suy nghĩ cho chín chắn rồi mới nói hoặc hành động, còn khi thấy mình có tâm sân hận thì không nên nói hay làm một hành động nào cả mà hãy cố giữ tâm mình im lặng như Thánh. Chỉ có im lặng như Thánh thì chúng ta mới chuyển hóa được nhân quả từ vô lượng kiếp.
  5. Đạo đức hiếu sinh đối trị tâm sân rất tuyệt vời, chỉ những người có quyết chí xa lìa các pháp làm khổ mình khổ người thì nổ lực kiên cường khắc phục, nhẫn nhịn, im lặng như thánh không để ác lẫy lừng thì diệt tâm sân không phải khó khăn. Diệt trừ tâm sân thì ngay trên tâm sân khởi lòng thương yêu ý hành thì tâm sân sẽ bị diệt ngay liền tức khắc. 
  6. Trong cuộc sống này nếu ai cũng biết thương yêu và tha thứ những lỗi lầm của kẻ khác thì thế gian này là Thiên đàng, Cực lạc, con người sống hạnh phúc biết bao. 
  7. Người sống biết nhẫn nhịn là người có một lòng thương yêu chúng sinh rộng lớn như đất trời. Nhờ lòng yêu thương ấy nên  khi bị người khác mạ lị, mạt sát thậm tệ bằng những lời lẽ thô ác, hoặc khi bị nói oan ức,... họ vẫn làm thinh một cách kiên cường, anh dũng. Dũng cảm im lặng như thánh, họ không minh oan một lời nào cả, đó là sự tuyệt vời của đức hạnh hiếu sinh nhẫn nhục mà không thể có một đức hạnh nào hơn được. Không những nhẫn nhục im lặng mà người đó còn trao ra lòng yêu thương của mình đối với người ghét mình. Tình thương yêu đó thật tuyệt vời và cao thượng không thể nghĩ lường được. Đó chính là lòng yêu thương chân thật.
  8. Bất cứ chúng ta làm một điều gì giúp người khác không tính hơn thiệt đều xuất phát từ lòng yêu thương chân thật. Ví dụ như giúp người không cần đền đáp, không cần ai trả ơn, không nhận sự trả ơn, không cần ai biết, không cần ai khen, không mong phước báu gì cả.
  9. Giá trị chân thật của một con người chính là lòng yêu thương, ai đánh mất lòng yêu thương là đã đánh mất giá trị của chính mình. Khi đứng trước mọi tình trạng, mọi cảnh huống như thế nào vẫn không đánh mất lòng thương yêu của mình (đức hiếu sinh) đối với sự sống trên hành tinh, người đó là người có lòng yêu thương chân thật. Người có lòng yêu thương dù đứng trước hoàn cảnh nào thà chịu chết chớ không giết hại và ăn thịt chúng sinh; người có lòng yêu thương sự sống dù đứng trước hoàn cảnh nào thà chịu nghèo đói, chứ không bao giờ lấy của không cho; người có lòng yêu thương sự sống, dù đứng trước hoàn cảnh nào thà chịu khổ chia sẻ ngọt bùi có nhau, chớ không bẻ gánh sang ngang; người có lòng yêu thương sự sống dù đứng trước hoàn cảnh nào thà chịu chết chứ không nói dối lường gạt người khác; người có lòng yêu thương sự sống trước hoàn cảnh nào thà chịu bị đánh đập, chửi mắng ,ngu si có khi bị giết cũng không bao giờ uống rượu và ăn thịt chúng sinh. Cho nên đạo đức hiếu sinh là một đạo đức tuyệt vời làm cho giá trị con người mãi mãi trường tồn.  
  10. Tình thương một hướng là tình thương ích kỷ, nhỏ mọn, hẹp hòi, nó thuộc về tình thương trong thất tình lục dục. Người sống với tình thương một hướng sẽ làm khổ mình, khổ người, khổ cả hai. Lòng yêu thương đặt nhiều hướng là lòng yêu thương thuộc về ĐỨC HIẾU SINH TỨ VÔ LƯỢNG TÂM, nó là một thứ tình thương yêu rộng lớn như trời cao, như biển rộng. Bởi làm người chúng ta cần phải tu học và rèn luyện nhân cách ĐỨC HIẾU SINH TỨ VÔ LƯỢNG TÂM NÀY để luôn luôn lúc nào cũng sống với đức HIẾU SINH. Nhờ có sống với ĐỨC HIẾU SINH rộng lớn như vậy mới đem lại sự an vui cho mình, cho người và cho tất cả sự sống trên hành tinh này.
  11. Đức yêu thương và đức thành thật rất quan trọng đối với giá trị của con người. Người có yêu thương mình và người khác thì không bao giờ nói dối. Người nào sống biết thương yêu mọi sự sống trên hành tinh này là người ở gần bên Phật, người nào đánh mất lòng yêu thương là người sống xa Phật. Đó là điều đúng như vậy, vì Phật là lòng thương yêu rộng lớn vô bờ bến, cho nên người nào có lòng yêu thương thì sẽ tương ưng với lòng yêu thương của Phật tức là sống bên Phật. 
  12.  Chỉ có lòng yêu thương mà con người trở thành một người toàn thiện, một người không còn bị ác pháp chi phối, tâm luôn luôn bất động thật là tuyệt vời. Chỉ có lòng yêu thương mà con người trở thành một người chứng quả giải thoát vô lậu. Bởi vậy ông Phú Lâu Na và em ông Cấp Cô Độc chỉ có thành tựu lòng yêu thương mà chứng quả A La Hán như trong kinh sách nguyên thủy thường nhắc đến. Đó là những gương hạnh tu tập TỨ VÔ LƯỢNG TÂM tức là tu hạnh HIẾU SINH. 
  13. Ở đâu có nghi ngờ, ở đó mất đoàn kết; ở đâu có nghi ngờ, ở đó nội lực bị suy yếu; ở đâu có nghi ngờ, ở đó có khổ đau; ở đâu có nghi ngờ, ở đó không có lòng yêu thương. Cho nên lòng nghi ngờ là một ác pháp cực ác, nó đánh mất tất cả đạo đức của con người nhất là đức hiếu sinh. Một khi người ta sinh nghi ngờ người khác thì lòng thương yêu sẽ bị đánh mất, lòng yêu thương đánh mất thì chỉ còn tâm ghét cay, ghét đắng v.v...Chỉ còn lòng căm ghét là nỗi khổ đau tùy miên trong lòng người nghi ngờ. Cho nên người tu hành theo Phật giáo là phải biết triệt hạ tâm nghi, nếu tâm nghi còn là còn khổ đau. 
  14. Bất cứ ai trong cuộc đời này làm những điều mờ ám như: gian tham, trộm cắp, cướp giựt, giết người hay làm bất cứ một việc ác hại nào khác chúng ta cũng đừng nghi ngờ. Họ làm ác không thể nào trốn tránh khỏi quả đau khổ; không thể nào tránh luật pháp Nhà nước được, còn riêng chúng ta phải giữ tâm mình không nghi ngờ ai hết. Nếu tâm vừa khởi nghi là dẹp xuống liền, đừng để ôm ấp trong lòng. Dẹp xuống liền bằng cách nào? Dẹp xuống liền bằng cách tư duy suy nghĩ: đức Phật dạy có năm điều ác trong tâm của mọi người, đó là: tham, sân, si, mạn, nghi. Năm tâm ác này chỉ có lòng yêu thương là diệt sạch ngay liền. Cho nên khi thấy ai đang ở trong ác pháp thì chúng ta khởi lòng yêu thương họ, khi yêu thương họ thì tâm tham, sân, si, mạn, nghi trong lòng chúng ta liền xả sạch. Lòng yêu thương là đệ nhất pháp xả tâm, nếu ai sống với lòng thương yêu tròn đầy thì người ấy là bậc A La Hán.  
  15. Muốn bỏ qua những bực dọc ngã mạn, những tức giận thù oán, những điều nghi ngờ, những lòng tham lam không đáy, những mê mờ không sáng suốt thì chỉ có lòng yêu thương thì mới xóa bỏ những trạng thái tâm ác ở trên. Bất cứ trên đời này có những sự khổ đau như thế nào, có những ác pháp như thế nào, muốn thoát ra mọi sự khổ đau ấy và các ác pháp thì chỉ có lòng yêu thương rộng lớn mới cứu chúng ta thoát khỏi; mới đem chúng ta đến với tâm thanh thản, an lạc và vô sự. Vì vậy ở đâu có tình thương yêu thì ở đó có sự bình an, yên vui và hạnh phúc. 
  16. Danh dự lớn nhất là lòng yêu thương, người có lòng thương yêu biết tha thứ mỗi lỗi lầm của người khác, đem lại sự an vui cho mình, cho người là danh dự lớn nhất trên thế gian này. Người giết con mà có danh dự gì, chỉ che giấu được người khác, chứ làm sao che giấu được tâm mình. Chuyện trai gái, chồng vợ là chuyện rất tầm thường, nhưng con người hơn các loài động vật là lòng chung thủy, biết thương nhau có trách nhiệm chồng vợ và con cái, khi đã hòa hợp cuộc sống với nhau, chứ không phải vì chữ trinh giá đáng nghìn vàng mà làm nên tội giết người, nhất là người mẹ lại giết con của mình thì tội còn nặng nhất trong lịch sử loài người. Khi ai đã lỡ lầm không làm chủ được tâm mình thì hãy tự thương mình, thương con của mình, đó là danh dự lớn nhất đời của đời người. Nếu ai biết thương mình và con mình thì đạp trên dư luận khen chê tốt xấu mà đi. Trên đời này không có điều gì xấu cả mà chỉ có ác và thiện; ác là đau khổ; thiện là hạnh phúc an vui. Nếu ai nạo bỏ thai nhi là người đó tạo tội lỗi giết người. 
  17. "Nếu sự sống có giá trị thật, thì chỉ có lòng thương yêu mới bảo vệ giá trị sự sống ấy được". Vì sự sống không có lòng yêu thương, nên giá trị sự sống bị chà đạp, bị đánh mất. Trên đời ai cũng có sự sống và muốn sống, nhưng lại xem thường giá trị sự sống, nên vì sự sống mà chà đạp lên sự sống, đành phải đánh mất lòng yêu thương.  Nếu ai chạm đến sự sống của muôn loài là người vô đạo đức hiếu sinh không xứng đáng làm con người. Làm con người phải có lòng yêu thương rộng lớn mới được được gọi là con người. 
  18. Chỉ có lòng yêu thương thì con người mới dám hy sinh mình cho người khác, mới đem lại hạnh phúc an vui cho con người trên hành tinh này; chỉ có lòng yêu thương chân thật mới phá tan những hận thù oán ghét; chỉ có lòng yêu thương chân thật mới không làm khổ mình khổ người và khổ tất cả chúng sinh; chỉ có lòng yêu thương chân thật thì con người mới gần nhau mà không làm khổ cho nhau; chỉ có lòng yêu thương chân thật con người mới đem lại lợi ích cho con người, cho gia đình, cho xã hội, cho đất nước, cho thế giới. 
  19. Luật nhân quả rất công bằng, muốn tạo ra sự sống cho mình mà làm hại sự sống của loài vật khác thì sự sống của mình sẽ không được bảo đảm, bằng chứng sự sống của loài người trên hành tinh này nay không chiến tranh chỗ này thì mai lại có chiến tranh chỗ khác, thiên tai lũ lụt, sóng thần, bão tố, động đất không nước này thì nước khác, cho nên sự sống của loài người đang bị đe dọa. Vậy mà con người có biết do đâu mà ra không? Do giết hại và ăn thịt chúng sinh. Hằng ngày số chúng sinh bị giết trên hành tinh này máu chảy thành sông, xương chất như núi. Ôi! Thật là kinh khủng. Ai cũng tham sống sợ chết như nhau thế mà nỡ nhẫn tâm lấy sự sống của loài vật làm sự sống cho mình, thật là con người sống như vậy mà sống được, sống phi đạo đức hiếu sinh, sống phi nhân bản, sống như một loài cầm thú chỉ biết giết hại và ăn thịt nhau như loài hùm beo, lang sói, kên kên, quà quạ v.v... Mình muốn sống mà giết hại chúng sinh thì cái sống của mình có bảo đảm hay không? Cho nên mình muốn sống thì phải thương sự sống của người khác, loài vật khác thì sự sống của mình mới bảo đảm. Đó mới chính là lòng yêu thương chân thật.
  20. Làm người lòng yêu thương phải rộng lớn vô bờ bến thì mới xứng đáng làm người. Làm người mà hẹp hòi ích kỷ không biết thương những loài vật khác nỡ tâm giết hại loài vật ăn thịt thì làm người như vậy có xứng đáng làm người chưa? Bởi căn bản con người sinh ra là người nào cũng có sẵn lòng yêu thương, nhưng lòng yêu thương ấy cần phải được rèn luyện trong nền đạo đức hiếu sinh nhân bản thì con người mới phát triển lòng yêu thương tối đa. Không có người nào là không có tình thương, nhưng tình thương ích kỷ nhỏ mọn chỉ biết thương mình. Chỉ biết thương mình thì lòng thương ấy không trọn vẹn; chỉ biết thương mình thì lòng thương ấy không bảo đảm sự sống của mình; chỉ biết thương mình thì lòng thương ấy là sợi chỉ mành treo chuông. Loài người hãy suy tư lại đi, những việc làm cướp mạng sống của loài vật khác có xứng đáng là lòng thương yêu của con người nữa không?
  21. Người giết hại ăn thịt chúng sinh mà muốn cho mình không bệnh tật đau khổ, không tai nạn hiểm nghèo thì không bao giờ có. Lấy máu của chúng sinh tức là giết hại chúng sinh, làm khổ chúng sinh mà muốn cho mình không tội lỗi thì điều ấy không bao giờ xảy ra. Lời dạy này còn một nghĩa nữa là giết hại chúng sinh cúng tế quỉ thần thì chẳng có thần thánh nào mà rửa tội cho mình được. Lời dạy này là lời cảnh giác để mọi người đừng bị tà sư ngoại đạo lừa đảo bằng cách giết chúng sinh cúng tế cầu an cầu siêu, cầu tài, cầu lợi, cầu quan, cầu thi đậu v.v...  Tóm lại lời dạy này là một đạo đức hiếu sinh khẩu hành rất tuyệt vời, vừa ngăn chặn sự giết hại chúng sinh, vừa khiến cho mọi người đem lại tình thương yêu chan hòa cùng nhau với mọi loài, mọi sự sống trên hành tinh này và nhất là con người tránh khỏi bị những tôn giáo thần quyền lừa đảo cúng tế thần thánh ban phước giải trừ tai ách một cách phi đạo đức hiếu sinh. 
  22. Trong luật nhân quả dạy ai làm lành thì hưởng được phước, ai làm ác thì phải gánh chịu hậu quả đau thương, chứ không có thần thánh nào ban phước rửa tội cho. Cho nên đức Phật khẳng định: "Xin các vị thiên thần tha tội là làm một việc vô ích". Lời dạy này quý vị nên ghi nhớ: Cầu khẩn cúng bái van xin thánh thần để ban phước cho quý vị là một việc làm vô ích. Một việc làm dối trá phi đạo đức. Làm ác, giết người cướp của, hiếp dâm, hằng ngày giết hại mạng chúng sinh để ăn thịt mà đến chùa, đình, điện, miếu để cầu cho được bình an, hạnh phúc yên vui thì không bao giờ có. Quý vị sống biết thương yêu sự sống của muôn loài, thường sống không làm khổ mình khổ người và khổ tất cả chúng sinh thì cuộc sống của quý vị không cần cầu Thần, Thánh, Tiên, Phật, Ngọc Hoàng, Thượng Đế phò hộ mà vẫn bình an, yên ổn, hạnh phúc. Quý vị có tin không? Có tin nhân quả không? Nếu tin thì quý vị sẽ trở thành những nhà đạo đức nhân bản – nhân quả, những con người đầy lòng thương yêu rộng lớn bao la đối với muôn loài sống trên hành tinh này. Quý vị sẽ là những người hạnh phúc nhất trần gian. 
  23. Chúng ta là những người tu hành theo Phật giáo thì phải sống trong đức hạnh hiếu sinh thương mình, thương người nên lúc cũng phải cẩn thận tỉnh giác trong mọi tình huống. Người sống trong đức hiếu sinh thương mình, thương người thì không bao giờ thiếu đức hạnh cẩn trọng tỉnh giác thân hành. Vì thế người có đức hạnh cẩn trọng tỉnh giác là có đức hiếu sinh thương mình, thương người và thương tất cả chúng sinh. Trong cuộc đời này chỉ có đức hiếu sinh mới đem lại sự bình an cho hành tinh. 
  24. Lòng còn ganh tị hơn thua là còn bản ngã; lòng còn tức giận là còn bản ngã; lòng còn nói xấu, vu khống mạ lị mạt sát người khác là còn bản ngã; người nào còn bản ngã là người chưa có lòng yêu thương thật sự. Những người này còn phải học hỏi đạo đức hiếu sinh nhiều nữa, nếu cố chấp không chịu học đạo đức thì họ chỉ là một con thú vật hung dữ mà thôi. Người nào còn mang bản tính kiêu mạn là người còn đầy đủ tánh hung ác, là người chưa biết thương mình, thương người, thường làm khổ mình, khổ người. 
  25. Một ý nghĩ thương yêu người, vật đến cỏ cây, đất đá núi sông, hồ ao v.v... đều là đức hiếu sinh thể hiện qua ý hành; một lời nói ái ngữ khuyên bảo, an ủi ai đó làm điều lành cũng là đức hiếu sinh khẩu hành; một hành động ra tay cứu vớt người, vật dù là giúp một côn trùng thoát chết khỏi một đoàn kiến hoặc vớt một con kiến khỏi vũng nước, đó đều là đức hiếu sinh thân hành. Nếu hằng ngày chúng ta đều có những hành động thân, miệng, ý thương yêu và tha thứ mỗi lỗi lầm, biết tránh không làm tổn hại sinh mạng sống chúng sinh, không làm đau khổ cho người khác loài vật khác. Đó là đạo đức hiếu sinh thân hành ý hành và khẩu hành. Muốn thoát khỏi sanh tử luân hồi thì chỉ có lòng yêu thương là pháp độc nhất giúp chúng ta ra khỏi sông mê bể khổ của cuộc đời này.
  26. Muốn có được tâm bình tĩnh sáng suốt, thì hằng ngày phải tập sống tỉnh thức thân hành, khẩu hành và ý hành với lòng yêu thương bao la rộng lớn đối với tất cả chúng sinh, lúc nào chúng ta cũng đem lòng yêu thương chúng, tránh không làm tổn thương và khổ đau chúng.
  27. Tĩnh giác chánh niệm là đức hạnh điềm đạm giúp cho chúng ta không giận dữ, bình tĩnh trước các ác pháp, giúp cho chúng ta được bình an trong cuộc sống. Chúng ta hãy rèn luyện đức điềm đạm hiếu sinh ý hành tức là ngồi yên lặng một lúc rồi mới tư duy, tập như vậy lâu thành một thói quen rất tốt. Muốn tập yên lặng được như vậy thì nương vào hơi thở tác ý tâm thanh thản, an lạc và vô sự rồi mới suy tư 1 ý niệm gì hay muốn nói 1 điều gì hoặc làm 1 việc gì.
  28. Ngoài tình yêu thương bản thân và gia đình không bao giờ có tình thương yêu rộng lớn đến với mọi người, mọi vật. Nhưng nếu không có tình thương yêu rộng lớn đến với muôn người, muôn lòai vật thì không bao giờ bảo vệ được tình thương yêu bản thân và gia đình.
  29. Mỗi lần tìm thấy được lỗi mình là mỗi lần huân tập thêm đạo đức. Mỗi lần thấy lỗi người là mỗi lần đánh mất đức hiếu sinh. Đánh mất đức hiếu sinh là làm khổ mình, khổ người và như vậy cuộc sống là địa ngục tràn đầy mọi sự khổ đau.
  30. Khi ban lòng yêu thương chân thật cho mọi người thì chúng ta phải có một hành động đi kèm theo, như người mẹ thương con thì hành động thương con bằng cách ôm hôn con, đó là ban tình thương cho con.
  31. Khen tặng một điều làm tốt của người khác cũng là ban tặng lòng yêu thương đến với họ. Tha thứ mọi lỗi lầm của người khác cũng là đạo đức hiếu sinh.
  32. Nếu không có lòng yêu thương thì không bao giờ có sự bình đẳng. Người ta kêu gọi sự tự do bình đẳng nhưng người ta không có lòng yêu thương thì sự tự do bình đẳng đó không bao giờ có. Cho nên tất cả những đức hạnh khác cũng từ đức hiếu sinh mà ra. Người có đức hiếu sinh bình đẳng thì đánh mất tính ngã mạn, tính tự cao, tự đại của mình. Cho nên càng học cao thì càng lộ đức khiêm hạ, lúc đó học giỏi học cao mới được mọi người quý trọng.
  33. Có đức khiêm hạ thì mới có đức cung kính và đức tôn trọng. Có đức cung kính và tôn trọng thì mới có lòng yêu thương chân thật.
  34. Lúc nào cũng nhớ mọi người thương mình và lúc nào mình cũng đang nhớ yêu thương mọi người, mọi loài chúng sinh. Có sống được như vậy mới thể hiện đức bình đẳng hiếu sinh. 
  35. Người sống không có giai cấp là người sống với lòng yêu thương chân thật.
  36. Chứng đạo của đạo Phật chỉ cần hiểu rốt ráo các pháp vô thường, khổ và vô ngã. Nhờ hiểu biết như vậy nên buông xả sạch. Khi ngộ các pháp là vô thường, khổ và vô ngã thì biết các pháp không có gì là ta, là của ta, là bản ngã của ta. Người tu theo đạo Phật chỉ có tri kiến hiểu biết, tri kiến hiểu biết là giác ngộ các pháp vô thường, khổ và vô ngã.
  37. Dù là vua, quan, làm dân hay bất cứ một người nào trong xã hội đều phải sống với đức khiêm hạ. Có đức khiêm hạ thì mới có đức bình đẳng.
  38. Ông Phú Lâu Na có cái nhìn hiếu sinh kỳ lạ luôn luôn thấy mọi người đều thương ông, đều tốt, không có người nào ác xấu, vì thế ông chứng quả Alahan dễ dàng.
  39. Giai cấp sống là giai cấp bình đẳng từ loài vật cho đến loài người đều sống như nhau.
  40. Bởi sự sống trên hành tinh này là sự sống nương tựa vào nhau, cái này đau khổ thì cái kia đau khổ, cái này an vui thì cái kia an vui.
  41. Nếu người tu hành nào cũng lắng nghe những sự đau khổ, buồn phiền của những người xung quanh mình và tìm mọi cách an ủi, giúp đỡ và hướng dẫn họ biết phương pháp xả tâm để không còn buồn phiền nữa. Hành động giúp đỡ người như vậy là ban cho tình thương đến họ, tức là yêu thương người. Đức hiếu sinh cũng vậy thường khởi lên trong ý nghĩ, lời nói, trong hành động bằng cách ban cho mình, cho người, đó là áp dụng đức hiếu sinh vào đời sống hằng ngày.
  42. Dù trong lòng có sự lo lắng, những buồn phiền hay có những sự đau khổ, chúng ta cũng không nên thổ lộ cho người khác biết, vì biết rằng sẽ làm cho họ buồn phiền, lo lắng, đau khổ. Đó là chúng ta thiếu lòng yêu thương người, tức là làm khổ người.
  43. Chỉ có đức hiếu sinh mới có sự thương mình, thương người. Thương mà không nói là THƯƠNG mà chỉ nói những lời ÁI NGỮ, lời nói êm dịu, nhẹ nhàng, ôn tồn, thanh lịch, nhã nhặn,...
  44. Khi chúng ta đứng trước các pháp dù thiện hay ác, chúng ta hãy vui lòng, chấp nhận, thương yêu và tha thứ mọi lỗi lầm của kẻ khác. Chính nhờ sự chấp nhận, yêu thương và tha thứ mà chúng ta xả được tâm tham, sân, si, mạn, nghi.
  45. Đạo Phật dạy chúng ta CHO mà không ai bíết ơn mình, CHO mà không cần trả ơn, CHO mà không mong ước cầu được phước báu. Người biết cách CHO như vậy là người đầy đủ tình yêu thương nhiều hướng, vì lòng yêu thương chân thật tự trong thân tâm.
  46. Đứng trước các người ác, pháp ác, chúng ta hãy ban cho họ lòng tha thứ và thương yêu, hãy dang rộng vòng tay và chia sẻ, nâng đỡ và giúp họ vượt lên, lìa xa không làm những điều ác ở trên. Chúng ta làm được điều này đều do xuất phát từ lòng yêu thương rộng lớn. Nếu không có lòng yêu thương rộng lớn thì không thể dang rộng vòng tay, thì không thể chia sẻ, cảm thông và giúp đỡ họ được. Ngay khi chúng ta thương yêu thực sự thì đức buông xả có ngay liền. 
  47. Khi người đáng ghét nhất, người ác nhất gặp tai nạn, hay có sự cố, sự đau khổ, bệnh tật gì xảy đến cho họ thì chúng ta hãy mau mau sẵn sàng chia sẻ, an ủi và giúp đỡ với lòng yêu thương chân thật.
  48. Đừng sống ích kỷ, hẹp hòi cá nhân chỉ biết nghĩ đến mình, lo cho mình. Tâm lượng lòng yêu thương rộng lớn như trời biển dung chứa tất cả cái xấu cũng như cái tốt, cái dơ cũng như cái sạch, lòng yêu thương ấy vẫn xem như nhau. Thương mình mà cứ lo cho mình là không thương mình, là làm khổ mình. Thương người mà lo cho người, giúp đỡ người, đó mới chính là thương mình, đem sự an vui cho mình. 
  49. Phải sống có lòng tin rằng rất cả mọi người đều thương yêu chúng ta.
  50. Cuộc sống chúng ta là 1 cuộc sống liên kết chặc chẽ với nhau, người này nương tựa và người kia, vật kia và ngược lại. Vì chúng ta không biết sự sống có sự liên kết với nhau nên thường nghĩ "Trên đời này chỉ có mình là trên hết, xem mọi người mọi vật không ra gì, lúc nào cũng dữ tợn, la hét, chửi mắng, nói nặng, nói nhẹ, đánh đập người vật khác, còn đối với các lòai vật thì giết hại và ăn thịt, luôn chà đạp lên sự sống của người khác vật khác". Do không hiểu bíết sự sống có liên kết chặc chẽ với nhau, chúng ta mới làm khổ mình, khổ người và khổ muôn lòai vạn vật cho đến cỏ cây đất đá núi sông. Do vậy chỉ có đức hiếu sinh mới dung thông người này với người kia, người này với người nọ, lòai vật với cỏ cây, cỏ cây với lòai vật. Nhờ có sự hiểu biết như vậy mới đem lại sự bình an cho nhau. Chúng ta thương yêu người khác chính là chúng ta thương yêu chúng ta.
  51. Người nào muốn biết mình là ai thì hãy sống với lòng yêu thương rộng lớn như đất trời thì mới biết mình là ai, từ đâu đến, và như vậy họ mới sống cho mình. Còn không thì họ phải sống theo nghiệp báo nhân quả.
  52. Đức hiếu sinh bao gồm cả thiện pháp và ác pháp. Niềm vui là thiện pháp, nổi buồn là ác pháp, nhưng đối với người có đức hiếu sinh gặp vui thì chia sẻ với mọi người, gặp buồn thì chuyển đổi cho mình và mọi người cùng vui. Đức hiếu sinh đến đâu thì phải có trí tuệ sáng suốt đến đó, vì thế gặp ác pháp thì nó chuyển đổi thành thiện pháp. Đức Phật dạy: "Tri kiến ở đâu thì giới luật ở đó, giới luật ở đâu thì tri kiến ở đó". Lời dạy này có nghĩa là "Lòng yêu thương ở đâu thì tri kiến ở đó, tri kiến ở đâu thì lòng yêu thương ở đó" Có hiểu bíết thì mới có lòng yêu thương chân thật.
  53. Dù gian nan lao khổ, nhọc nhằn đến đâu cũng không nên lìa lòng yêu thương của quý tu sinh.
  54. Muốn tâm lúc nào cũng được thanh thản, an lạc và vô sự thì phải giữ gìn lòng yêu thương rộng lớn như đất trời, lúc nào cũng hiện hữu lòng yêu thương không để đánh mất. Dù trong cảnh thuận hay cảnh nghịch cũng không được đánh mất. Nói chung là tất cả thời gian nào, hoàn cảnh nào và các ác pháp nào cũng không được để tâm bất an, mà phải bảo vệ tâm thanh thản, an lạc và vô sự.
  55. Niệm Phật chính là niệm lòng yêu thương đến chúng sanh, đến cây cỏ, sông hồ, ao núi, thời tiết, khí hậu, môi trường, thiên nhiên và toàn thể những gì có trong vũ trụ này. Thật là hạnh phúc biết bao khi được niệm Phật bằng ý hành yêu thương, bằng khẩu hành yêu thương, bằng thân hành, bằng hành động yêu thương đối với muôn loài vạn vật có sự sống trên hành tinh này. Niệm Phật như vậy mới thực tế và có nhiều lợi ích.